TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Internet Download

Nấm kèn

Tên tiếng Anh: Golden chanterelle
Tên Latin: Cantharellus cibarius
Đồng danh: Agaricus cantharellus L. 1753
Đồng danh: Merulius cantharellus (L.) Scop. (1772)
Đồng danh: Chanterel cantharellus (L.) Murrill (1910)
Đồng danh: Cantharellus pallens Pilát (1959)
Tên khác: Nấm mồng gà
  • Độ cao so mặt nước biển 2000 M
  • Mã định danh004
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

NẤM KÈN

Cantharellus cibarius Fr. 1821
Agaricus cantharellus L. 1753
Merulius cantharellus (L.) Scop. (1772)
Chanterel cantharellus (L.) Murrill (1910)
Cantharellus pallens Pilát (1959)
Họ: Nấm cantarê Cantharellaceae
Bộ: Nấm lỗ Aphyllophorales

Đặc điểm nhận dạng:
Mũ nấm có đường kính từ 3 – 9 cm, cao 4 – 12 cm, hình loa kèn đặc, chất thịt, mầu vàng tươi, vàng lòng đỏ trứng đến nâu vàng nhạt ở trung tâm. Mép mũ lượn sóng. Bào tầng dạng gân, phân nhánh như nếp gấp và men xuống tới phần gốc cuống. Cuống nấm ở giữa, dài 3 – 6 cm, dày 7 – 12 mm, hình trụ, phần gốc hơi thót lại và có dạng dễ giả (Pseudorhiza), bụi bào tử màu vàng tối. Bào tử hình bầu dục, cỡ 8 – 10 x 4 – 5 mm, nhẵn, trong mờ hoặc hơi vàng nhạt, không dạng tinh bột, có giọt dầu. Đảm hình chuỳ, kích thước 28 – 35 x6 – 7 mm. Không có liệt vào. Sợi nấm có khoá.
Sinh học, sinh thái:
Nấm thường mọc thành đám, tháng 4 – 9, trên đất rừng thông. Quả thể nấm mọc vào mùa thu.
Phân bố:
Trong nước: Ninh Bình (Cúc Phương), Lâm Đồng (Đà Lạt)
Nước ngoài: Trung Quốc, Liên bang Nga, Hungari, Philippin, Bắc Mỹ.
Giá trị:
Đây là loài nấm ăn ngon, nên từ lâu đã được người dân ở Châu Âu thu hái dùng làm thực phẩm. Năm 1971, tác giả và đồng nghiệp đã trực tiếp thu mẫu và ăn tại Cúc Phương (Ninh Bình). Theo Bi Zhishu, Zeng Guoyang and Li Taihui, 1993 loài này còn dùng trong y học.
Tình trạng:
Ở Việt Nam, loài phân bố không rộng, rất ít lần gặp lại, Sinh cảnh sống bị suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản và phát triển du lịch; bị khai thác quá mức làm thực phẩm.
Biện pháp bảo vệ: 
Loài đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (1996) với cấp đánh giá “hiếm” (Bậc R). Cần đưa vào đối tượng bảo vệ của Vườn quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình). Phục hồi quần thể trong tự nhiên; nuôi cấy sinh khối sợi nhằm mục đích bảo tồn.

Tài liệu tham khảo: Sách đỏ Việt Nam 2000 – phần thực vật – trang 459.

  • Documentation and reference sources:004

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae