TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Nguyễn Văn Cường

Nai xám

Tên tiếng Anh: Sambar deer
Tên Latin: Rusa unicolor
Đồng danh: Cervus unicolor Kerr, 1792
Đồng danh: Cervus unicolor equinus (Cuvier, 1823)
Đồng danh: Cervus equinus Cuvier, 1823
Đồng danh: Cervus unicolor Kerr, 1792
Tên khác: Nai đen
  • Độ cao so mặt nước biển 1200 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

NAI XÁM

Rusa unicolor (Kerr, 1792)
Cervus unicolor Kerr, 1792
Cervus equinus Cuvier, 1823
Cervus unicolor equinus (Cuvier, 1823)
Họ: Hươu nai Cervidae
Bộ: Ngón chẵn Artiodactyla

Đặc điểm nhận dạng:
Nai là loài lớn nhất trong  họ hươu nai Cervidae, nặng 150 – 200 kg, dài thân 1.800 – 2.000mm. Bộ lông dày, sợi lông nhỏ, dài, nâu ở hông và mông, xám hay xám đen ở lưng và ngực, trắng bẩn ở bụng và mặt trong các chi. Nai đực có sừng (gạc) ba nhánh. Nhánh thứ nhất tạo với nhánh chính một góc nhọn lớn. Sừng to, thô, nhiều nhánh và nhiều đốt sần.
Sinh học, sinh thái:
Nai sống nhiều sinh cảnh rừng: rừng thưa, rừng rụng lá,  rừng thứ sinh  ven trảng cỏ. Mật độ cao gặp ở các vùng rừng ven suối và đồi bát úp. Nai không sống ở độ cao trên 1.000m. Khu vực sống rộng 4 – 5 km2 và ổn định. Sống đàn hoặc đơn, kiếm ăn đêm. Nơi xa dân cư. Nai có thể kiếm ăn cả lúc sáng sớm và chiều tối. Nơi bị săn bắn mạnh Nai đi kiếm ăn muộn (23 – 24 giờ).
Nai ăn các loại cỏ, lá mầm,  cây bụi, cây tái sinh và một số loại quả rừng rụng xuống. trong điều kiện nuôi Nai ăn 20 – 25 kg cỏ, lá một ngày. Nai sinh sản tập trung vào mùa thu và mùa xuân. Mang thai khoảng 8 tháng. Mỗi năm đẻ một lứa, mỗi lứa đẻ 1 con. Nai con đẻ ra khoẻ, bú mẹ khoảng 6 tháng, trưởng thành sinh dục sau 2 năm tuổi.
Phân bố:
Trong nước: Trước đây Nai gặp khắp các tỉnh có rừng, hiện nay chỉ còn dọc theo biên giới phía Tây, từ Tây bắc đến Đông nam bộ và còn nhiều ở Đồng Nai (Vườn quốc gia Cát Tiên).
Nước ngoài: Trung Quốc, Nepal, Nepal, Ấn Độ, Zeyland, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaysia, Sumatra, Java, Borneo, Philippines.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Loài này trước đây ghi nhận phân bố rất rộng từ miền Bắc vào miền Nam, hiện chỉ còn ghi nhận ở một số tỉnh miền Trung và miền Nam, rất hiếm gặp. Sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do xâm lấn đất rừng để canh tác nông nghiệp và khai thác lâm sản. Loài này bị săn bắt quá mức làm thực phẩm ở các địa phương. Kích cỡ quần thể ước tính bị suy giảm > 50% trong vòng 30 năm qua.
Phân hạngEN A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Nhóm IIB Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các Khu bảo tồn nên được bảo vệ. Nhưng vẫn cần thiết bảo vệ sinh cảnh ở các khu vực phân bố; kiểm soát chặt chẽ việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này; thực hiện các giải pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên..

Tài liệu dẫnSách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 194.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae