TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Nai cà tông

Tên tiếng Anh: Eld's deer
Tên Latin: Cervus eldi
Đồng danh: Panolia acuticauda Gray, 1843
Đồng danh: Rucevus thamin Thomas, 1918
Đồng danh: Panolia acuticauda Gray, 1843
Đồng danh: Rucevus hainanus Thomas, 1918
Tên khác: Hươu cà tông
  • Độ cao so mặt nước biển 600 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

NAI CÀ TÔNG

Cervus eldi M Clelland, 1842
Panolia acuticauda Gray, 1843
Rucevus thamin Thomas, 1918
Họ: Hươu nai Cervidae
Bộ: Ngón chẵn Artiodactyla

Đặc điểm nhận dạng:
Nai cà tông có hình dáng giống Nai, nhưng nhỏ hơn. Đầu và mặt thuôn dài, tai to tròn. Con đực có cặp sừng 4 – 5 nhánh, nhánh 1 hướng về phía trước tạo với thân sừng hình vòng cung ngay trên đỉnh đầu, các nhánh khác ở ngọn sừng xoè ra giống như bàn tay 3 – 4 ngón. Bộ lông mềm, lưng mầu hung đỏ hoặc vàng hung có hai hàng chấm mầu vàng nhạt chạy dọc lưng. Con đực lông ở cổ thưa, ở gáy dầy, dài rủ xuống hai bên cổ. Ngực, bụng, háng mầu trắng. Phía trong chân sau có vệt trắng nhạt chạy dài xuống dưới. Đuôi rất ngắn. Con non có các đốm trắng như sao ở mông.
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn chủ yếu là cỏ, lá cây …Thời kỳ sinh sản vào tháng 10, 11. Động dục ghép đôi vào tháng 3 – 4, thời gian có chửa khoảng 8 tháng. Mỗi năm đẻ một lứa, mỗi lứa 1 con. Sinh sống trong rừng thưa, rừng thứ sinh, rừng khộp có địa hình tương đối bằng ở độ cao 500 – 600 m so với mặt biển. Chúng sống thành từng đàn nhỏ 5 – 10 con hoặc nhiều hơn. Hoạt động kiếm ăn ban đêm, nơi thoáng mát ven rừng cho đến sáng sớm, khi mặt trời mọc chúng tìm nơi trú ấn nghỉ ngơi trong các thung lũng rậm rạp.
Phân bố:
Trong nước: Kontum (Sa Thầy), Gia Lai, Đắk Lắk (Đắc Min, Ea Súp, M’Đrắc, Yok Đôn), Đắc Nông, Khánh Hoà.
Nước ngoài: Ấn Độ, Myanmar, Trung Quốc, Cambodia, Thái Lan.
Giá trị:
Thú quý hiếm, loài có giá trị trong hệ sinh thái và giá trị nghiên cứu khoa học cũng như nuôi cảnh ở công viên, vườn thú..
Tình trạng:
Loài này ghi nhận phân bố các tỉnh Tây Nguyên và Khánh Hòa, rất hiếm gặp. Sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do xâm lấn đất rừng để canh tác nông nghiệp và khai thác lâm sản. Loài này bị săn bắt làm thực phẩm ở các địa phương. Kích cỡ quần thể ước tính bị suy giảm > 80% trong vòng 30 năm qua.
Phân hạng: CR A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục I CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh ở các khu vực phân bố; kiểm soát chặt chẽ việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này; thực hiện các giải pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên và chương trình nhân nuôi bảo tồn chuyển chỗ.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 42.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae