Mèo rừng
| Tên tiếng Anh: | Leopard cat |
|---|---|
| Tên Latin: | Felis bengalensis |
| Đồng danh: | Felis bengalensis Kerr, 1792 |
| Đồng danh: | Prionailurus bengalensis Kerr, 1792 |
| Đồng danh: | Felis bengalensis bengalensis Kerr, 1792 |
| Đồng danh: | Prionailurus bengalensis bengalensis Kerr, 1792 |
| Tên khác: | Mèo báo |
- Độ cao so mặt nước biển 300 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Hầu khắp khu vực có rừng ở Việt Nam Vườn Quốc gia Côn Đảo, Việt Nam Hầu hắp các vùng châu Á Hầu khắp Việt Nam Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén, Việt Nam Vườn quốc gia Vũ Quang, Việt Nam
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng ngập mặn Bản làng, khu vực dân cư gần bìa rừng Rừng khô hạn ven biển
MÈO RỪNG
Felis bengalensis Kerr, 1792
Prionailurus bengalensis Kerr, 1792
Họ: Mèo Felidae
Bộ: Ăn thịt Carnivora
Đặc điểm nhận dạng:
Hình dạng giống mèo nhà, nặng 3 – 5 kg, dài thân 450 – 550mm, dài đuôi 250 – 290mm. Lông mềm màu vàng trắng điểm nhiều đốm đen không đều, quanh đốm đen viền vàng nâu. Bụng và chân màu xám trắng. Đầu có những sọc màu đen, trắng chạy dọc từ đỉnh đầu đến mũi. Mũi màu hồng nhạt, lông quanh miệng màu trắng. Chân dài hơn và có màng giữa các ngón chân rõ nét. Mặt sau của đôi tai dài và tròn vừa phải của chúng có màu đen với các đốm trắng ở giữa. Cơ thể và các chi được đánh dấu bằng các đốm đen có kích thước và màu sắc khác nhau, và dọc theo lưng của chúng là hai đến bốn hàng đốm dài. Đuôi có kích thước bằng khoảng một nửa chiều dài đầu-thân và có một vài đốm không rõ ràng gần đầu đen.
Sinh học, sinh thái:
Mèo rừng sống ở rừng thứ sinh nghèo, trên các savan cây bụi, các bãi cây ven nương rẫy. Không có nơi ở cố định. Vận động nhanh nhẹn, leo trèo, bơi lội giỏi. Kiếm ăn đêm, ngày ngủ trong hốc cây, hang đá, trong bụi rậm hay trên chạc cây to kín. Thường ngồi rình mồi, đợi khi con mồi đi qua, nhảy ra vồ và ngoạm vào gáy. Mèo rừng ăn chuột, sóc, chim, lưỡng cư và các loại côn trùng (cào cào, châu chấu). Thức ăn ưa thích là chuột.
Phân bố:
Trong nước: Mèo rừng gặp ở khắp các tỉnh trung du và miền núi và kể cả các khu rừng phục hồi núi đá ven biển miền Trung Việt Nam.
Nước ngoài: Viễn Đông Liên Xô (cũ), Triều Tiên, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal, Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Lào, Malaysia, Indonesia, Philippines.
Giá trị sử dụng:
Mèo rừng ăn chuột nên rất có ích cho sản xuất nông lâm nghiệp. Đây là loài thú thuộc họ Mèo Felidae cho da lông đẹp, cho nguyên dược liệu và thương mại.
Tình trạng:
Số lượng mèo rừng nước ta không còn nhiều. Để nghị việc cấm khai thác nguồn lợi tự nhiên chúng ta có thể nuôi mèo rừng.
Tài liệu tham khảo: Thú Đông Dương & Thái Lan trang 97.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Chuột chù hoffman
Tên tiếng Anh:Hoffman's shrews
Tên Latin:Chodsigoa hoffmanni
Trai tai tượng nhỏ
Tên tiếng Anh:Fluted giant clam
Tên Latin:Tridacna squamosa
Vừng
Tên tiếng Anh:Wild guava
Tên Latin:Careya sphaerica
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae