TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Internet download

Mèo ri

Tên tiếng Anh: Jungle cat
Tên Latin: Felis chaus
Đồng danh: Felis chaus chaus Schreber, 1777
Đồng danh: Felis chaus fulvidina Thomas, 1929
Đồng danh: Felis chaus affinis Gray, 1830
Đồng danh: Felis chaus furax de Winton, 1898
Tên khác: Mèo núi, Mèo chaus
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

MÈO RI

Felis chaus Gueldenstaedt, 1776
Felis chaus affinis Gray, 1830
Felis chaus chaus Schreber, 1777
Felis chaus fulvidina Thomas, 1928
Felis chaus furax [de Winton, 1898]
Họ: Mèo Felidae
Bộ: Thú ăn thịt Carnivora

Đặc điểm nhận dạng:
Mèo có Bộ lông màu xám tro đến vàng nâu, phần bụng lông sáng hơn và dài hơn. Đặc điểm nổi bật của mèo ri là Bộ lông đơn giản, gần như đồng mầu hoặc chỉ có đốm mờ ở thân và có lông đen dài ở đỉnh tai. Nhưng có một số vệt trắng ở mặt và 2 vệt ở mặt trong chân trước; nhiều vệt đốm mờ ở phía ngoài của 4 chân. Mèo non có thể có một số dải đen ở thân. Đuôi ngắn không quá nửa dài thân, thường xấp xỉ 1/ 3 ; có 4 – 5 vòng đen ở nửa cuối đuôi.
Sinh học, sinh thái:
Ở Việt Nam loài này chưa được nghiên cứu. Theo Kanchanasakha et al., (1998), Mèo ri sống ở các trảng cỏ, trảng cây bụi và các bờ lau lách, dọc sông và đầm lầy. Mèo hoạt động cả ban ngày và đêm, thường là sáng sớm và chiều tối. Thức ăn bao gồm các loài thú gặm nhấm, chim, bò sát, ếch nhái, côn trùng và cá. Mỗi lứa đẻ thường 3 con, đôi khi tới 5 con. Mèo con mở mắt sau 11 – 15 ngày tuổi.
Phân bố:
Trong nước: Kontum (Vườn quốc gia Chư Mom Ray), Gia Lai (K’Bang), Đắk Lắk (Vườn quốc gia Yok Đôn), Tây Ninh (Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát) (Chưa xác định được đầy đủ vùng phân bố).
Nước ngoài: Egypt, Iran, Iraq, Israel, Turkey, Afghanistan, Jordan, Kazakhstan, Mongolia, Nga, Syria, Tajikistan, Uzbekistan, Sri Lanka, Bangladesh, Bhutan, Ấn Độ, Nepal, Trung Quốc, Myanmar, Lào, Campuchia, Thái Lan.
Giá trị:
Góp phần điều hoà số lượng các vật mồi, giúp cân bằng sinh thái. Có thể nuôi làm cảnh ở các vườn thú để nghiên cứu sinh thái học.
Tình trạng:
Ở Việt Nam loài này rất hiếm gặp. Kích cỡ quần thể ước tính bị suy giảm > 80% trong khoảng 40 năm qua do mất và suy thoái sinh cảnh sống và có thể đã bị săn bắt cạn kiệt. Ghi nhận gần đây nhất vào năm 1978 tại K’Bang (tỉnh Gia Lai)..
Phân hạngCR A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục II CITES, Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Nhưng hiện nay loài này có thể đã bị săn bắt cạn kiệt. Sinh cảnh sống của loài bị chia cắt và suy thoái do xâm lấn đất rừng tự nhiên để mở rộng đất sản xuất nông nghiệp, khai thác lâm sản. Cần thiết bảo vệ sinh cảnh sống của loài; đánh giá hiện trạng quần thể và có giải pháp phục hồi quần thể, kể cả nhân nuôi bảo tồn chuyển chỗ.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae