TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Mèo gấm

Tên tiếng Anh: Marbled cat
Tên Latin: Pardofelis marmorata
Đồng danh: Felis marmorata Martin, 1837
Đồng danh: Pardofelis marmorata subsp. charltonii (Gray, 1846)
Đồng danh: Felis marmorata Martin, 1837
Đồng danh: Pardofelis marmorata subsp. charltonii (Gray, 1846)
Tên khác: Cầy gấm
  • Độ cao so mặt nước biển 1200 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

MÈO GẤM

Pardofelis marmorata (Martin, 1837)
Felis marmorata Martin, 1837
Họ: Mèo Felidae
Bộ: Thú ăn thịt Carnivora

Đặc điểm nhận dạng:
Loài thú nhỏ trong họ nhà Mèo FelidaeBộ lông mịn xốp, thay đổi lớn về hoa văn. Nền lông mầu xám xanh hay nâu son; có nhiều vệt đen ở đầu, cổ và lưng; có hoa văn gần kiểu hoa văn của báo gấm nhưng nhỏ hơn, bị đứt quãng và mờ lẫn trong nền lông lưng. Có 2 dải lông đen chạy từ cổ đến gốc đuôi, tách biệt với các vân ở lưng; nhiều đốm nhỏ ở đùi. Đuôi dài xấp xỉ dài thân và nhiều vệt đen nhỏ không thành vòng đuôi rõ như báo gấm. Mắt màu hổ phách hoặc vàng, tai ngắn, tròn và đen, với một đốm trắng đến vàng nhạt nổi bật trên lưng.
Sinh học, sinh thái:
Mèo gấm còn ít được nghiên cứu. Kiếm ăn chủ yếu ban đêm, thức ăn gồm các loài chim, gậm nhấm nhỏ, rắn, bò sát, ếch nhái, côn trùng. Mèo sống và hoạt động ở vùng rừng núi cây gỗ lớn và rừng tái sinh và kể cả trên núi đất và núi đá, hoạt động về đêm.
Phân bố:
Trong nước: Trước đây ghi nhận phân bố từ Lai Châu, Lào Cai vào đến khu vực Tây Nguyên. Hiện nay có thông tin ghi nhận ở Thanh Hoá (Xuân Liên) và Nghệ An (Pù Huống, Pù Mát).
Nước ngoài: Nepal, Ấn Độ, Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaysia, Indonesia, Brunei.
Giá trị:
Thú quí, hiếm có giá trị nghiên cứu khoa học và góp phần điều hoà số lượng cá thể các quần thể con mồi.
Tình trạng:
Loài đây trước đây ghi nhận phân bố ở miền Bắc vào đến Tây Nguyên nhưng hiện chỉ còn thông tin phân bố ở các tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An. Sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do xâm lấn đất rừng và khai thác lâm sản; loài này cũng là đối tượng bị săn bắt làm thực phẩm và buôn bán; kích cỡ quẩn thể ước tính bị suy giảm > 80% trong vòng 30 năm qua.
Phân hạng: EN A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục I CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nhóm IB Nghị định 84/2021/ NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Nhưng vẫn rất cần thiết bảo vệ sinh cảnh trong khu vực phân bố; kiểm soát chặt chẽ việc săn bắt và buôn bán loài này; thực hiện các giải pháp phục hồi quần thể, kể cả nhân nuôi bảo tồn chuyển chỗ.

Tài liệu dẫnSách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae