TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Mèo cá

Tên tiếng Anh: Fishing cat
Tên Latin: Prionailurus viverrinus
Đồng danh: Felis viverrina Bennett, 1833
Đồng danh: Felis viverrina Bennett, 1833
Đồng danh: Felis viverrina Bennett, 1833
Đồng danh: Felis viverrina Bennett, 1833
Tên khác: Mèo cáo cộc
  • Độ cao so mặt nước biển 500 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

MÈO CÁ

Prionailurus viverrinus (Bennett, 1833)
Felis viverrina Bennett, 1833
Họ: Mèo Felidae
Bộ: Thú ăn thịt Carnivora

Đặc điểm nhận dạng:
Về hình thể Mèo cá rất giống mèo rừng nhưng có kích thước lớn hơn. Những đặc điểm phân biệt giữa hai loài trước hết đặc điểm ở đuôi, đuôi mèo cá ngắn rõ rệt, chỉ xấp xỉ 1/3 dài thân (đuôi Mèo rừng xấp xỉ nửa dài thân); đuôi Mèo cá có đốm, vòng mờ lẫn trong nền xám (rất rõ ở đuôi Mèo rừng). Bộ lông Mèo cá màu xám gio và nhiều đốm mờ nhỏ lẫn trong nền xám. Đốm ở Méo cá nhỏ hơn ở mèo rừng.
Sinh học, sinh thái:
Mèo cá sống ở các sinh cảnh ven các thuỷ vực gần rừng như rừng thường xanh, rừng tràm, rừng ngập mặn ven biển và đồng bằng sông Cửu Long, các trảng cây bụi, trảng lau sậy dọc sông, suối. Mèo hoạt động chủ yếu trên mặt đất, bơi lội giỏi. Mèo làm tổ trong các hốc đất đá, bụi rậm, hốc cây,… Thời gian mang thai khoảng 63 ngày, mỗi lứa đẻ 1 – 4 con. Thức ăn gồm cá, cua, ốc, chuột, chim…
Phân bố:
Trong nước: Trước đây ghi nhận phân bố rộng từ Cao Bằng, Lạng Sơn (Yok Đôn vào đến Kiên Giang, Cà Mau. Hiện nay chỉ có thông tin ghi nhận ở Đắk Lắk (Yok Đôn), Cà Mau (U Minh Hạ), Kiên Giang (Phú Quốc, U Minh Thượng).
Nước ngoài: Ấn Độ, Nepal, Bangladet, Myanmar, Nam Trung Quốc, Pakistan, Srilanka, Đài Loan, Thái Lan, Malaysia, Indonesia.
Giá trị:
Góp phần điều hoà số lượng cá thể các loài động vật con mồi trong tự nhiên. Có giá trị nghiên cứu khoa học và nuôi cảnh trong các vườn thú.
Tình trạng:
Loài này trước đây ghi nhận phân bố rộng từ miền Bắc vào miền Nam. Tuy nhiên, hiện chỉ có thông tin ghi nhận ở các tỉnh Đắk Lắk, Cà Mau và Kiên Giang. Sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái, nguồn thức ăn suy giảm. Loài này là đối tượng bị săn bắt cạn kiệt làm thực phẩm và buôn bán; kích cỡ quẩn thể ước tính bị suy giảm > 80% trong vòng 30 năm qua.
Phân hạng: CR A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục II CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nhóm IB Nghị định 84/2021/ NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Nhưng rất cần thiết bảo vệ sinh cảnh ở các khu vực phân bố; kiểm soát chặt chẽ việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này; thực hiện các giải pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae