TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Mã hồ nê pan

Tên tiếng Anh: Nepal mahonia
Tên Latin: Berberis napaulensis
Đồng danh: Berberis nepalensis Spreng., 1825
Đồng danh: Berberis acanthifolia Wall. ex Walp., (1842)
Đồng danh: Mahonia annamica Gagnep., 1908
Đồng danh: Mahonia siamensis Takeda, (1915)
Tên khác: Hoàng liên ô ro

MÃ HỒ NÊ PAN

Berberis napaulensis (Wall. ex Wight & Arn.) Hook.f. & Thomson, (1872)
Berberis nepalensis Spreng., 1825
Berberis acanthifolia Wall. ex Walp., (1842)
Mahonia annamica Gagnep., 1908
Mahonia siamensis Takeda, (1915)
Họ: Hoàng mộc Berberidaceae
Bộ: Mao lương Ranunculales

Đặc điểm nhận dạng:
Cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ, cao 1,5 – 3 m. Đường kính thân 2 – 7 cm; vỏ có lớp bần dày, màu trắng xám; gỗ thân và rễ có màu vàng; cây có thể phân nhánh. Lá kép lông chim lẻ, dài 20 – 40 cm; lá chét mỗi bên từ 3 – 7 cái, gần như không cuống, hình bầu dục hoặc hơi thuôn, cỡ 3,5 – 7 x 2,5 – 4 cm, gốc hơi hình tim hoặc cụt, đỉnh nhọn hoắt thành gai; phiến lá dày, cứng, mép khía 3 – 5 răng cưa to, nhọn sắc; 3 gân chính, gân phụ nổi rõ cả 2 mặt. Cụm hoa 1 – 5, hình bông, phân nhánh, mọc thẳng ở ngọn. Hoa nhiều, màu vàng; lá bắc hình bầu dục, tù. Đài 9, xếp thành 3 vòng. Cánh hoa 6 hình mác tù, có 2 tuyến ở gốc. Nhị 6, mọc đối với cánh hoa, bao phấn dài bằng nửa chỉ nhị. Bầu hình trụ, phình ở giữa. Quả hạch, màu xanh lơ, gần hình cầu, đường kính 6 – 7 mm, đầu quả có núm nhỏ do đầu nhuỵ tồn tại. Hạt 1, màu nâu đen, dài khoảng 3 mm.
Sinh học, sinh thái:
Mùa hoa tháng 2 – 4, quả tháng 4 – 6. Cây ra hoa kết quả nhiều. Nhân giống tự nhiên bằng hạt; có khả năng tái sinh sau khi bị chặt phát. Cây ưa ẩm, chịu bóng lúc nhỏ, sau ưa sáng; thích nghi với vùng có khí hậu ôn hoà (Đà Lạt và Langbian). Thường mọc rải rác ở ven rừng hay dưới tán rừng kín thường xanh ẩm, ở độ cao 1.700 – 1.900 m.
Phân bố:
Trong nước: Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn (Ngân Sơn), Lâm Đồng (núi Langbian).
Nước ngoài: Nepal, Trung Quốc.
Giá trị:
Là nguồn gen quý hiếm đối với Việt Nam. Thân và rễ có berberin (khoảng 2%), dùng làm thuốc chữa tiêu chảy, kiết lỵ, rối loạn tiêu hoá.
Tình trạng:
Loài cây có vùng phân bố hẹp. Hiện chỉ biết chắc chắn ở một điểm phân bố là núi Langbian, với số lượng cá thể không nhiều, có thể bị xâm hại, do nằm trong vùng rừng núi phục vụ cho du lịch sinh thái.
Phân hạng: EN A1c,d
Biện pháp bảo vệ:
Loài đã được ghi trong Sách đỏ Việt Nam (1996) với cấp đánh giá “sẽ nguy cấp” (Bậc V). Cần bảo vệ triệt để những cá thể hiện có tại Langbiang. Mở rộng điều tra sang vùng phụ cận (Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà) nhằm phát hiện thêm điểm phân bố. Hiện đã được thu thập về trồng tại vườn của Trung tâm cây thuốc Đà Lạt (Viện dược liệu), với mục đích bảo tồn ngoại vi (Ex situ). Cây sinh trưởng phát triển tốt.

Tài liệu tham khảo: Sách đỏ Việt Nam 2007 – phần thực vật – trang 131.

  • Documentation and reference sources:003

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae