Lửng chó
| Tên tiếng Anh: | Common raccoon dog |
|---|---|
| Tên Latin: | Nyctereutes procyonoides |
| Đồng danh: | Nyctereutes viverinus Temmick, 1838 |
| Đồng danh: | Nyctereutes siensis Brass, 1904 |
| Đồng danh: | Nyctereutes stegmanni Matschie, 1907 |
| Đồng danh: | Nyctereutes kalininensis Sorokin, 1958 |
| Tên khác: | Cáo chó |
- Độ cao so mặt nước biển 1200 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Trung Quốc Hà Tĩnh Nghệ An Hầu khắp các tỉnh ở Bắc Bộ Vườn quốc gia Xuân Sơn, Việt Nam Vườn Quốc Gia Pù Mát, Việt Nam Khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên, Lạng Sơn
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Bản làng, khu vực dân cư gần bìa rừng Rừng thường xanh núi cao Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa
LỬNG CHÓ
Nyctereutes procyonoides Gray, 1834
Nyctereutes viverinus Temmick, 1838
Nyctereutes siensis Brass, 1904
Nyctereutes stegmanni Matschie, 1907
Nyctereutes kalininensis Sorokin, 1958
Họ: Chó Canidae
Bộ: Ăn thịt Carnivora
Đặc điểm nhận dạng:
Lửng chó nặng 3 – 5 kg, dài thân 540 – 610 mm, đuôi 162 – 180 mm, Đầu nhỏ, mõm ngắn và hơi nhọn. Chân ngắn. Bộ lông dài và thô, màu vàng hung, mút lông xám, Đầu, mỏm và bốn vó chân đen, Đuôi dài bằng một phần ba chiều dài thân. Lông đuôi rậm, màu xám.
Sinh học, sinh thái:
Lửng chó sống trong rừng thường xanh và bán thường xanh, trảng cây bụi, nương rẫy gần rừng; thường là thung lũng ẩm thấp, dọc khe suối nước, ven các đầm nước, hồ, sông ngòi và đồng ruộng; kiếm ăn ở các nương bãi và đồng ruộng ven rừng. Lửng chó sinh sản vào các tháng 4 – 6, thời gian mang thai 59 – 64 ngày, mỗi lứa đẻ 3-6 con. Nghiên cứu ở Nga cho thấy lửng chó sinh ra chưa mở mắt, con non mở mắt sau 9 – 10 ngày tuổi, mọc răng vào 2 – 3 tuần tuổi, ra khỏi hang đi kiếm ăn cùng mẹ sau 15 – 16 ngày tuổi, thời gian bú sữa 1,5 – 2 tháng. Đến 4 – 5 tháng tuổi, lửng con có khả năng sống độc lập và trưởng thành sinh dục sau 9 -11 tháng tuổi. Thức ăn gồm Giun đất, côn trùng (cào cào, châu chấu, dế, dán đất, bọ hung…) và các loài thằn lằn, nhái, ếch.
Phân bố:
Trong nước: Hà Giang (Tây Côn Lĩnh), Cao Bằng, Lạng Sơn (Hữu Liên, Bắc Sơn), Quảng Ninh (Hải Hà, Bình Liêu), Phú Thọ (Xuân Sơn), Vĩnh Phúc, Nghệ An (Pù Mát).
Nước ngoài: Viễn đông Liên Xô (cũ), Triều Tiên, Trung Quốc.
Giá trị:
Loài hiếm có giá trị khoa học và nguồn gen. Lửng chó là loài hiếm từ trước đến nay, là nguồn gen tự nhiên quý. Do nạn săn bắt, chặt phá rừng, chó rừng ngày càng trở nên hiếm.
Tình trạng:
Loài này ghi nhận phân bố ở miền Bắc nhưng rất hiếm gặp. Sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do mất rừng và khai thác lâm sản. Loài này trước đây đã bị săn bắt làm thực phẩm; kích cỡ quẩn thể ước tính bị suy giảm > 50% trong vòng 30 năm qua.
Phân hạng: EN A2cd.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Nhóm IIB Nghị định 84/2021/ NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên vẫn rất cần thiết bảo vệ sinh cảnh ở các khu vực phân bố; kiểm soát việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này; thực hiện các giải pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên.
Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 34.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Bướm đuôi berna
Tên tiếng Anh:Tawny rajah
Tên Latin:Charaxes bernardus
Re bạc
Tên tiếng Anh:No english name
Tên Latin:Cinnamomum mairei
Rắn lục đuôi đỏ mắt lớn
Tên tiếng Anh:Large-eyed pitviper
Tên Latin:Trimeresurus macrops
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae