Lệ dương ấn
| Tên tiếng Anh: | Indian broomrape |
|---|---|
| Tên Latin: | Aeginetia indica |
| Đồng danh: | Orobanche aeginetia L., 1763 |
| Đồng danh: | Phelypaea indica (L.) Spreng. ex Steud., 1841 |
| Đồng danh: | Orobanche aeginetia L., 1763 |
| Đồng danh: | Phelypaea indica (L.) Spreng. ex Steud., 1841 |
| Tên khác: | Tai đất ấn |
- Độ cao so mặt nước biển 1800 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Lào Thái Lan Malaysia Ấn Độ Trung Quốc Gia Lai Hà Giang Lào Cai Vườn quốc gia Cát Tiên, Việt Nam Vườn quốc gia Chư Mom Ray, Việt Nam Vườn quốc gia Phước Bình, Việt Nam
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng thường xanh núi cao Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa
LỆ DƯƠNG
Aeginetia indica L., 1753
Orobanche aeginetia L., 1763
Phelypaea indica (L.) Spreng. ex Steud., 1841
Họ: Lệ dương Orobanchaceae
Bộ: Hoa môi Lamiales
Đặc điểm nhận dạng:
Cây thân thảo, thân thường rất ngắn, dạng thân rễ, cao 3 – 4 cm. Lá tiêu giảm thành dạng vảy, lẫn với màu đất. Hoa hình ống, gồm 1 – 3 hoa, cuống dài 8 – 20 cm. Đài hoa dạng mo, màu nâu vàng, có các sọc đỏ tía. Tràng hoa màu hồng tím, phần ống dài 1,5 – 2,5 cm; miệng ống hơi xoè ra với 5 thuỳ tròn, nông, trong đó có 2 thuỳ liền nhau trên cùng 1 mảnh. Nhị 4, đính ở chỗ hẹp trong ống hoa. Bầu hình thoi có vòi nhuỵ cao hơn nhị. Quả nang, 2 mảnh, nằm trong đài tồn tại. Hạt rất nhỏ, nhiều, màu vàng ngà.
Sinh học, sinh thái:
Mùa hoa tháng 9 – 10, quả tháng 10 – 12. Nhân giống tự nhiên bằng hạt. Cây ưa ẩm, ưa sáng; thường ký sinh trên rễ một số loài cây thuộc họ Hoà thảo Poaceae hoặc họ Gừng Zingiberaceae, ở nương rẫy, trên đồi hay trong các trảng cỏ, trong vùng rừng núi đá vôi, ở độ cao từ 1.000 – 1.600 m.
Phân bố:
Trong nước: Lào Cai (Sapa: Sa Pả, Bản Khoang; Bát Xát: Dền Sáng), Hà Giang (Yên Minh: Lao và Chải), Gia Lai (Kon Ch’Rò) và Kontum (Vườn quốc gia Chư mom Ray), Lâm Đồng (Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà), Ninh Thuận) Vườn quốc gia Phước Bình), Đồng Nai (Vườn quốc gia Cát Tiên)
Nước ngoài: Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Malaysia.
Giá trị:
Loài hiếm và có dạng sống đặc biệt. Cả cây và hoa dùng làm thuốc tiêu độc, chữa mụn nhọt, cảm sốt, viêm họng và chữa rắn cắn.
Tình trạng:
Loài này ghi nhận phân bố ở một số tỉnh từ miền Bắc vào miền Nam; sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do mở rộng diện tích canh tác nông nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng và cháy rừng; loài này bị khai thác quá mức làm thuốc; kích cỡ quần thể ước tính suy giảm > 30 % trong vòng 10 năm qua.
Phân hạng: VU A2acd.
Biện pháp bảo vệ:
Một phần sinh cảnh của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Đề xuất bảo vệ quần thể và sinh cảnh của loài trong tự nhiên. Giảm thiểu tác động của canh tác nông nghiệp đến sinh cảnh của loài. Có thể trồng nhân tạo để bảo tồn và làm thuốc, giảm áp lực khai thác từ tự nhiên.
Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần thực vật – trang 303.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Nhái bầu hòn giao
Tên tiếng Anh:Hongiao narrow - mouth frog
Tên Latin:Microhyla hongiaoensis
Bướm hổ cánh nâu
Tên tiếng Anh:Chestnut tiger
Tên Latin:Parantica sita
Rẽ lưng nâu
Tên tiếng Anh:Red knot
Tên Latin:Calidris canutus
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae