TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Kỳ đà vân

Tên tiếng Anh: Clouded monitor
Tên Latin: Varanus nebulosus
Đồng danh: Tupinambis cepedianus Daudin, 1802
Đồng danh: Lacerta argus Daudin, 1802
Đồng danh: Varanus taraguira Merrem, 1820
Đồng danh: Monitor gemmatus Guérin-Méneville, 1829
Tên khác: Kì đà núi
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

KỲ ĐÀ VÂN

Varanus nebulosus (Gray, 1831)
Tupinambis cepedianus Daudin, 1802
Lacerta argus Daudin, 1802
Varanus taraguira Merrem, 1820
Monitor gemmatus Guérin-Méneville, 1829
Họ: Kì đà Varanidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Có cơ thể dài tới 2m, kích thước và hình dáng tương tự như Kỳ đà hoa, song đuôi chúng không dẹp bên, lỗ mũi là một khe xiên có vị trí gần mắt hơn đầu mõm, lưng có màu xám hay nâu nhạt với những đốm vàng nhỏ rải rác, các chi có những vết màu đen nhạt nằm theo chiều ngang và có những vân đen, bụng có nhiều vân nâu xám và vàng.
Sinh học, sinh thái:
Sống chủ yếu ở vùng rừng núi, những môi trường khô ráo ít nhiều gắn bó với các vực nước. Chúng ẩn trong những hang sâu dưới những tảng đá hoặc trong đám rễ cây. Một khi Kỳ đà đã lọt vào trong hang thì khó mà có thể lôi chúng ra ngoài, do chúng phình to thân bám chặt lấy thành trong của hang. Chúng bơi giỏi, leo trèo giỏi thường kiếm ăn trên mặt đất hoặc trên cây, ăn côn trùng, thằn lằn, chim và thú nhỏ, đôi khi phá cả tổ chim để ăn trứng và chim non. Gặp nguy hiểm Kỳ đà vân có thể nằm giả chết, ngay cả khi nhấc đuôi lên, chúng vẫn không cử động. Trong mùa sinh sản, các cá thể đực đánh nhau để giành cá thể cái. Vào mùa mưa, Kỳ đà vân đẻ khoảng 24 trứng có vỏ dai vào hố do chúng tự đào rồi dùng mõm để lấp đất lên hố có chứa ổ trứng.
Phân bố
Trong nước: Hầu hết các khu vực rừng thường xanh và rừng khộp từ Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Kontum, Gia Lai, Đắk Lắk, Bình Phước, Đồng Nai, Kiên Giang, Bà Rịa – Vũng Tàu đến Kiên Giang (Vườn quốc gia Phú Quốc)
Nước ngoài: Myanmar, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia.
Giá trị:
Cũng như Kỳ đà hoa, kỳ đà vân có giá trị thẩm mỹ nên thường được nuôi trong các vườn động vật để giáo dục môi trường cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Kỳ đà vân sống ở khu vực rừng thường xanh hoặc rừng khộp; mặc dù có vùng phân bố rộng nhưng sinh cảnh sống của loài bị chia cắt, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản và xâm lấn đất rừng; loài này bị săn bắt cạn kiệt làm thực phẩm, dược liệu, kỹ nghệ da và nuôi làm cảnh, thường xuyên bị buôn bán ở trong nước và quốc tế; số lượng cá thể bị suy giảm trong tự nhiên ước tính khoảng hơn 50% trong vòng 20 năm trở lại đây (tương đương 3 thế hệ) và các nhân tố tác động vẫn đang tồn tại. Loài này thường xuyên bị săn bắt để làm thực phẩm, dược liệu, lấy da và nuôi làm cảnh, đôi khi bắt gặp ngâm rượu. Kỳ đà vân cũng là đối tượng bị buôn bán khá phổ biến nên kích cỡ quần thể nhỏ; sinh cảnh sống của loài đã và đang bị chia cắt và suy thoái do khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng.
Phân hạng: EN A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Sinh cảnh của loài có một phần nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Loài này thuộc Phụ lục I CITES và Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Tuy nhiên vẫn cần kiểm soát việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này. Bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên, giảm thiểu tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng. Nhân nuôi sinh sản phục vụ nhu cầu của thị trường nhằm giảm thiểu săn bắt từ tự nhiên.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 236.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae