TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Kỳ đà hoa

Tên tiếng Anh: Asian water monitor
Tên Latin: Varanus salvator
Đồng danh: Stellio salvator Laurenti, 1768
Đồng danh: Tupinambis elegans Daudin, 1802
Đồng danh: Monitor nigricans Cuvier, 1829
Đồng danh: Hydrosaurus salvator Gray, 1845
Tên khác: Kì đà nước lợ
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

KỲ ĐÀ HOA

Varanus salvator (Laurenti, 1768)
Stellio salvator Laurenti, 1768
Tupinambis elegans Daudin, 1802
Monitor nigricans Cuvier, 1829
Hydrosaurus salvator Gray, 1845
Họ Kì đà Varanidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng: 
Kỳ đà hoa có cơ thể dài tới 2,5m; cá thể cái có cơ thể nhỏ hơn. Đây là loài thằn lằn có cỡ lớn nhất thuộc họ Kì đà Varanidae ở nước ta, có đầu thuôn dài, cổ dài, mõm dài và hơi dẹp có hai lỗ mũi hình bầu dục ở vị trí gần mõm hơn là gần mắt. Lưỡi dài mảnh, đầu lưỡi chẻ đôi; lưỡi luôn luôn thò ra thụt vào qua khe miệng như lưỡi rắn. Cơ thể to dài, còn đuôi dẹp bên, sống đuôi rất rõ. Cá thể non có lưng màu đen với những vết vàng nhỏ và to hình tròn xếp theo hàng ngang. Mõm có những vạch ngang rất rõ trên các vảy môi. Có một đường đen đi từ mắt đến thái dương. Cá thể trưởng thành thân có màu nâu vàng lục. Những hoa văn ở cá thể non trở nên ít rõ và càng khó phân biệt ở những cá thể già.
Sinh học, sinh thái:
Thường sống ở bờ sông, bờ suối trung du và miền núi hay các khu rừng ngập mặn cửa sông ven biển. Chúng ẩn trong khe đá hay các hang hốc dưới các gốc cây hoặc trong các bờ bụi. Bơi lặn giỏi, có thể lặn lâu tới 20 – 30 phút. Kì đà ăn động vật: cua, ếch, nhái, cá là những con mồi ưa thích. Ngoài ra chúng còn ăn cả trứng, chim non, thú nhỏ, thằn lằn và côn trùng cỡ lớn. Cá thể non ăn côn trùng. Chúng thường bắt mồi vào ban ngày, sục sạo trong các bờ sông suối, những môi trường nước cạn và trong các bụi rậm. Bắt mồi bằng cách rình mồi và vồ mồi; đôi khi Kì đà dùng lưỡi đầu chẻ đôi để đánh hơi theo dấu vết của con mồi; nếu mồi quá to kì đà thường dùng răng và chi trước để xé mồi. Buổi trưa những ngày nắng nóng, chúng thường ẩn trong các hang hốc, trong bụi cây gần nước hoặc ngâm mình trong nước. Bắt đầu hoạt động vào buổi chiều cho tới hoàng hôn. Sau đó tìm về hang để trú đêm.
Đẻ trứng vào mùa hè khoảng từ tháng 4, 5 đến tháng 7, 8. Đẻ khoảng 15 tới 20 trứng trong các hang hốc bên bờ sông hoặc trong các hang hốc trong các bờ bụi gần nước. Trứng có màu trắng bẩn, thuôn hai đầu, dài khoảng 5 cm.
Phân bố:
Trong nước: Hầu hết các khu vực rừng thường xanh, rừng bán ngập mặn, ngập nước và rừng khộp, ghi nhận từ Lai Châu vào đến Cà Mau, Kiên Giang (Phú Quốc).
Nước ngoài: Ấn Độ, Sri Lanka, Bangladesh, Nam Trung Quốc, Myanmar, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, Philippines..
Giá trị:
Kì đà có kích thước cỡ lớn, da đẹp, hiền, có giá trị thẩm mỹ được nuôi trong các vườn động vật. Nếu được phép nuôi thương phẩm trong các trang trại để nhân giống và lấy da, thì có thể được sử dụng làm đồ mỹ nghệ có giá trị thương mại cao.
Tình trạng:
Kỳ đà hoa thường sống ở khu vực rừng tự nhiên; sinh cảnh sống của loài bị chia cắt, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, du lịch và xâm lấn đất rừng; loài này phân bố rộng nhưng bị săn bắt cạn kiệt, buôn bán làm thực phẩm, dược liệu, kỹ nghệ da và nuôi làm cảnh ở trong nước và quốc tế; quần thể trong tự nhiên ước tính bị suy giảm hơn 50% trong vòng 20 năm trở lại đây (tương dương 3 thế hệ) và các nhân tố tác động hiện vẫn đang tồn tại.
Phân hạng: EN A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Sinh cảnh của loài có một phần nằm trong các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn nên được bảo vệ. Loài này thuộc Phụ lục II CITES và Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Tuy nhiên vẫn cần kiểm soát việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này. Bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên, giảm thiểu tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng. Nhân nuôi sinh sản phục vụ nhu cầu của thị trường nhằm giảm thiểu săn bắt từ tự nhiên..

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 237.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae