TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Khướu ngọc linh

Tên tiếng Anh: Golden - winged laughingthrush 
Tên Latin: Trochalopteron ngoclinhense
Đồng danh: Trochalopteron ngoclinhense Eames et al., 1999
Đồng danh: Trochalopteron ngoclinhense Eames et al., 1999
Đồng danh: Trochalopteron ngoclinhense Eames et al., 1999
Đồng danh: Trochalopteron ngoclinhense Eames et al., 1999
Tên khác: Khướu ngọc linh
  • Độ cao so mặt nước biển 1800 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

KHƯỚU NGỌC LINH

Trochalopteron ngoclinhense Eames et al., 1999
Họ: Khướu Timaliidae
Bộ: Sẻ Passeriformes

Đặc điểm nhận dạng:
Chim trưởng thành trán màu xám nâu với màu nâu đen ở giữa các lông ở phần sau mắt và hai bên đầu. Đỉnh đầu, gáy nâu đỏ thẫm; vai, lưng và hông màu xám phớt nâu vàng. Lông bao trên đuôi màu xám lẫn nâu vàng. Mặt dưới đuôi màu nâu tối. Lông bao cánh nhỏ và nhỡ màu xám pha lẫn nâu vàng; lông bao cánh lớn nâu vàng với dải rộng màu nâu đỏ thẫm; phiến lông trong góc cánh màu đen; lông bao cánh sơ cấp đen. Vùng trước mắt đen; lông bao tai màu xám; giữa và hai bên cạnh ngực xám và xám bạc. Bụng cho tới dưới đuôi xám phớt nâu vàng. Mỏ đen sừng; chân nâu tối; tròng mắt nâu tối.
Sinh học, sinh thái:
Thường gặp đi cặp đôi hoặc đàn nhỏ; rất nhút nhát. Sinh cảnh sống là rừng lá rộng thường xanh trên núi cao, thảm thực bì tốt. Trên thân cây gỗ có nhiều loài thực vật sống cộng sinh. Độ cao phân bố trên 2.000 m. Sinh học chưa rõ.
Phân bố:
Trong nước: Quảng Nam (Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh), Kontum (khu vực rừng của Lâm trường Kon Plông).
Nước ngoài: Chỉ có ở Việt Nam.
Giá trị:
Loài chim quí, đặc hữu của Việt Nam, có giá tri thẩm mỹ và khoa học.
Tình trạng:
Khướu ngọc linh là loài chim định cư, đặc hữu của vùng Tây Nguyên, hiện chỉ ghi nhận ở một vài địa điểm thuộc tỉnh Kon Tum; diện tích phạm vi phân bố (EOO) ước tính < 5.000 km2, bị phân mảnh; sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do ảnh hưởng của các hoạt động canh tác nông nghiệp và khai thác lâm sản; đôi khi bị săn bắt làm sinh vật cảnh. Loài hiện được đánh giá không phổ biến trong vùng phân bố giới hạn nên quần thể dao động trong khoảng từ 1,000 – 2,499 cá thể trưởng thành, tương đương với 1,500 – 3,749 cá thể (làm tròn từ 1,500 – 4,000 cá thể).
Phân hạngEN B1ab(i,iii).
Biện pháp bảo vệ:
Khướu ngọc linh đã được đưa vào Nghị định số 64/2019/NĐ – CP và Nghị định số 84/2021/NĐ – CP của Chính phủ. Sinh cảnh của loài nằm trong khu bảo tồn nên được bảo vệ. Cần điều tra quần thể loài tại Việt Nam, xây dựng kế hoạch bảo tồn loài, bảo vệ và phục hồi sinh cảnh sống trong vùng phân bố tự nhiên; kiểm soát các hoạt động săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 293.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae