Khỉ vàng
| Tên tiếng Anh: | Rhesus macaque |
|---|---|
| Tên Latin: | Macaca mulatta |
| Đồng danh: | Cercopithecus mulatta Zimmermann, 1780 |
| Đồng danh: | Macaca siamica Kloss, 1917 |
| Đồng danh: | Macaca nipanensis Hodgson, 1840 |
| Đồng danh: | Macaca oinops Hodgson, 1840 |
| Tên khác: | Bú dù |
- Độ cao so mặt nước biển 1200 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Hầu khắp Đông nam Á Hầu khắp các tỉnh ở Bắc Bộ Hầu khắp các tỉnh ở Trung Bộ Vườn quốc gia Du Già, Việt Nam Vườn quốc gia Xuân Sơn, Việt Nam Vườn quốc gia Bạch Mã, Việt Nam Vườn quốc gia Chư Mom Ray, Việt Nam
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng kín lá rộng nửa rụng lá nhiệt đới Sống ở trên cây Rừng thường xanh núi cao
KHỈ VÀNG
Macaca mulatta (Zimmermann, 1780)
Cercopithecus mulatta Zimmermann, 1780
Macaca siamica Kloss, 1917
Macaca nipanensis Hodgson, 1840
Macaca oinops Hodgson, 1840
Họ: Khỉ Cercopithecidae
Bộ: Linh trưởng Primates
Đặc điểm nhận dạng:
Toàn thân màu nâu vàng. Con trưởng thành mặt có màu đỏ. Lông trên đỉnh đầu rất ngắn. Phía sau thân màu nâu nhạt hơn phía trước. Đuôi có độ dài trung bình ngắn hơn 3/4 chiều dài đầu và thân, được phủ một lớp lông tốt. Vùng mông ngoài và đùi có màu hung đỏ. Da quanh chai mông tròn, không có lông. Loài này gần giống với loài Khỉ đuôi dài Macaca fascicularis
Sinh học, sinh thái:
Khỉ vàng sống trong điều kiện dao động rất lớn của nhiệt độ môi trường, lượng mưa cũng như độ cao. Từ vùng rất lạnh tới vùng nóng gần 500 C, từ nơi rất khô gần sa mạc tới nơi có lượng mưa hàng năm 10000 mm và từ độ cao so với mặt nước biển tới 3.050 m và sống thành nhóm tới 50 cá thể. Fooden (1971) đã quan sát được 20 cá thể trong một nhóm khỉ vàng ở Thái Lan năm 1967. Tuổi thành thục 42 – 48 tháng (Melnik, 1987). Thời gian mang thai 164 ngày. Khoảng cách giữa các lần sinh 12 – 24 tháng (Ross, 1992). Thời gian sống 29 năm (Ross, 1991). Thời gian sinh sản trong năm khoảng 3 – 6 tháng (Melnik, 1987).
Thức ăn chủ yếu là quả, hạt, lá, nõn cây, cỏ, một số Bộ: phận khác của cây và một số động vật không xương sống (Rochard, 1989). Gần 100 loài cây được dùng làm thức ăn (Lindburg, 1977). Là loài hoạt động ban ngày, phần lớn dưới đất, một phần trên cây (Seth, 1986). Cấu trúc đàn dạng nhiều đực, nhiều cái. Trong đêm thường con cái sống tập thể. Con đực đầu đàn tuy có dẫn đầu nhưng thường ở phía ngoài của nhóm (Parker, 1990). Số lượng cá thể trong đàn thường lớn 10 – 50 con có khi tới 90 con (Seth, 1986). Chúng thích sống trong các khu rừng nguyên sinh, thứ sinh, rừng khô, rừng hỗn giao, rừng tre nứa, rừng ngập nước, rừng thưa nhiệt đới, rừng thông, cây bụi, rừng ẩm nhiệt đới, gần khu nông nghiệp. Chúng sống tới độ cao 3000m (Parker, 1990). Nước là yếu tố ngăn cản của sự phân bố.
Phân bố:
Trong nước: Lai Châu (Phìn Hồ), Sơn La (Xuân Nha, Phù Yên, Mộc Châu, Sốp Cộp), Hà Giang (Đồng Văn,Tây Côn Lĩnh, Khau Ca, Du Già), Lào Cai (Hoàng Liên, Văn Bàn), Yên Bái (Mù Cang Chải), Hòa Bình (Hang Kia – Pà Cò), Phú Thọ (Xuân Sơn), Cao Bằng (Trùng Khánh), Tuyên Quang (Na Hang, Chiêm Hoá), Bắc Kạn (Nam Xuân Lạc, Ba Bể, Kim Hỷ), Thái Nguyên (Thần Sa), Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Lạng Sơn (Hữu Liên), Bắc Giang, Hà Nội (Hương Sơn), Ninh Bình (Cúc Phương), Hải Dương (Chí Linh), Hải Phòng ( Cát Bà), Quảng Ninh (Bái Tử Long), Thanh Hoá (Pù Hu, Xuân Liên, Pù Luông), Nghệ An (Pù Huống, Pù Hoạt), Hà Tĩnh (Vũ Quang), Quảng Bình (Phong Nha-Kẻ Bàng, Bố Trạch, Minh Hoá, Quảng Ninh, Động Châu – Khe Nước Trong), Quảng Trị (Bắc Hướng Hoá, Đắk Rông), Thừa Thiên Huế (Bạch Mã, KBT Sao La), Quảng Nam (Sông Thanh), Quảng Ngãi (Ba Tơ), Kontum (Sa Thầy, Chư Mon Ray, Kon Plông), Gia Lai (Kon Ka Kinh, Kon Chư Răng), Đắk Lắk (Ea Sô), Lâm Đồng (Bidoup – Núi Bà).
Nước ngoài: Afghanistan, Bangladesh, Bhutan, Ấn Độ, Nepal, Pakistan, Trung Quốc, Myanmar, Lào, Thái Lan.
Giá trị:
Được sử dụng trong sản xuất vacxin chống bệnh bại liệt trẻ em, làm vật mẫu, đối tượng nghiên cứu khoa học. Hiện nay đã được Viện vệ sinh dịch tễ Hà Nội (Bộ Y tế) tổ chức nhân nuôi tại Đảo Rều (Quảng Ninh) với số lượng hàng nghìn con để sản xuất vacxin. Cần có biện pháp bảo vệ tốt trong thiên nhiên để giữ nguồn gen quý.
Tình trạng:
Trước đây loài này còn gặp phổ biến ở các khu rừng ở các tỉnh phía Bắc tới Tây Nguyên. Sinh cảnh sống của loài bị thu hẹp, chia cắt và suy thoái do mất rừng và khai thác lâm sản. Loài này cũng bị săn bắt quá mức làm thực phẩm, dược liệu và nuôi làm cảnh; ước tính quần thể đã bị suy giảm > 30% trong vòng 40 năm qua.
Phân hạng: VU A2d.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục II CITES, Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh trong khu vực phân bố. Kiểm soát chặt chẽ tình trạng săn bắt, buôn bán trái pháp luật loài này ở trong nước và quốc tế. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo tồn loài nhằm hạn chế tác động đến sinh cảnh và quần thể của loài.
Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 40.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Bưởi bung
Tên tiếng Anh:Claw flowered laurel
Tên Latin:Acronychia pedunculata
Rắn hổ mây hamton
Tên tiếng Anh:Hampton's slug snake
Tên Latin:Pareas hamptoni
Dây bình trấp
Tên tiếng Anh:No english name
Tên Latin:Actinostemma tenerum
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae