TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Khỉ mặt đỏ

Tên tiếng Anh: Stump-tailed macaque
Tên Latin: Macaca arctoides
Đồng danh: Macaca brunneus (Anderson, 1871)
Đồng danh: Macaca harmandi (Trouessart, 1897)
Đồng danh: Macaca melanotus (Ogilby, 1839)
Đồng danh: Macaca melli (Matschie, 1912)
Tên khác: Khỉ cộc
  • Độ cao so mặt nước biển 1800 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

KHỈ MẶT ĐỎ

Macaca arctoides (I. Geoffroy, 1831)
Macaca brunneus (Anderson, 1871)
Macaca harmandi (Trouessart, 1897)
Macaca melanotus (Ogilby, 1839)
Macaca melli (Matschie, 1912)
Họ: Khỉ Cercopithecidae
Bộ: Linh trưởng Primates

Đặc điểm nhận dạng:
Màu lông thường là màu nâu sẫm, nhưng cũng có biến đổi từ đen sang đỏ. Phần dưới của bụng bao giờ cũng nhạt hơn phía trên. Lưng màu nâu đỏ tới nâu sẫm. Mặt phần lớn có màu đỏ. Lông trên đỉnh đầu thường toả ra các phía xung quanh. Lông ở hai bên má toả ra phía sau. Khỉ mặt đỏ có đuôi to, ngắn, không quá 1/3 dài bàn chân sau. Dương vật của con đực trưởng thành dài khác thường. Điểm nổi bật là chai mông to, không có lông.
Sinh học, sinh thái:
Thời gian mang thai 178 ngày (Ross, 1992), khoảng cách giữa các kỳ sinh: 19 tháng. Thời gian sống khoảng 30 năm ( Ross, 1991). Thức ăn chủ yếu là quả, hạt, lá non, nõn và động vật kể cả côn trùng, chim và trứng (Richard, 1989). Chúng hoạt động vào ban ngày. Cuộc sống leo trèo và cả đi trên mặt đất. Khỉ mặt đỏ thường hay đi trên mặt đất trong rừng và dọc theo các bờ sông và suối (Richard, 1989), chưa thấy chúng bơi. Trong lúc đi ăn thường phát ra tiếng kêu để gọi nhau hoặc khi thấy nguy hiểm. Trong đàn có con đực dẫn đầu để bảo vệ đàn. Cấu trúc đàn là nhiều đực, nhiều cái, kích thước đàn từ 5 – 40 cá thể (Wolfheim, 1983). Trong một ngày đàn có thể di chuyển 400- 3000m (Betrand, 1969). Khỉ mặt đỏ thường sống trong các khu rừng thấp, gió mùa, rừng khô và các khu rừng rậm trên núi cao tới 2000m so với mực nước biển. Tuy vậy vẫn quan sát thấy chúng ở những khu dân cư, đền và miếu (Wolfheim, 1983).
Phân bố:
Trong nước: Rộng khắp cả nước: Lai Châu (Tuần Giáo, Quỳ Nhai, Kim Sơn, Mường Tè), Lào Cai (Sapa, Sình Hồ), Sơn La (Mộc Châu, sông Mã), Hà Giang, Cao Bằng (Trùng Khánh), Tuyên Quang (Tát Kẻ, Chiêm Hoá, Bản Bung), Hoà Bình (Đà Bắc, Mai Châu, Kim Bôi), Thanh Hoá (Như Xuân, Hồi Xuân), Nghệ An (Bến Thuỷ), Hà Tĩnh (Hương Khê, Hương Sơn), Quảng Bình (Tuyên Hoá, Minh Hoá, Bố Trạch), Thừa Thiên – Huế (Bạch Mã, Hải Vân, Huế), Quảng Trị (Dakrong, Lao Bảo), Gia Lai (Kon Hà Nừng, Kon Cha Răng), Kontum (Mom Ray), Đắk Lắk (Krông Nô, Đăc Min, Ea Sup, Mdrak), Lâm Đồng (Đà Lạt, Bi Doup – Núi Bà), Đồng Nai (Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai, Cát Tiên), Bà Rịa – Vũng Tàu ( Bình Châu – Phước Bửu), Kiên Giang ( Phú Quốc).
Nước ngoài: Ấn Độ, Bangladesh, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaysia, Trung Quốc
Giá trị:
Là đối tượng nghiên cứu khoa học. Mặt khác nếu bảo vệ và tổ chức nhân nuôi tốt chúng sẽ trở thành nguồn gen thử nghiệm vaccine phục vụ con người.
Tình trạng:
Trước đây, loài này khá phổ biến ở các khu rừng trên cả nước. Sinh cảnh sống của loài bị thu hẹp, chia cắt và suy thoái do mất rừng và khai thác lâm sản. Loài này cũng bị săn bắt quá mức làm thực phẩm, dược liệu và nuôi làm cảnh; ước tính quần thể đã bị suy giảm > 30% trong vòng 30 năm qua.
Phân hạngVU A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục II CITES, Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Cần thiết bảo vệ sinh cảnh trong khu vực phân bố. Kiểm soát chặt chẽ tình trạng săn bắt, buôn bán trái pháp luật loài này ở trong nước và quốc tế. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo tồn loài nhằm hạn chế tác động đến sinh cảnh và quần thể của loài.

Tài liệu dẫnSách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 36.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae