TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Khỉ đuôi lợn

Tên tiếng Anh: Northern pig-tailed macaque
Tên Latin: Macaca leonina
Đồng danh: Macaca adusa Miller, 1906
Đồng danh: Macaca blythii Pocock, 1931
Đồng danh: Macaca insulana Miller, 1906
Đồng danh: Macaca indochinensis Kloss, 1919
Tên khác: Khỉ xám
  • Độ cao so mặt nước biển 1200 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

KHỈ ĐUÔI LỢN

Macaca leonina (Blyth, 1863)
Macaca adusa Miller, 1906
Macaca blythii Pocock, 1931
Macaca insulana Miller, 1906
Macaca indochinensis Kloss, 1919
Họ: Khỉ Cercopithecidae
Bộ: Linh trưởng Primates

Đặc điểm nhận dạng:
Là một trong những loài lớn nhất trong họ hàng nhà Khỉ Cercopithecidae. Hai bên má lông dài, rậm, màu hung sáng phủ gần kín tai tạo thành đĩa mặt. ở đỉnh đầu lông màu hung xẫm hoặc xám đen tạo thành “xoáy” toả ra xung quanh gần giống cái mũ. Sau trán có một mảng lông hình tam giác màu nâu đậm. Thân phủ lông dài màu xám. Lông đuôi rất ngắn giống đuôi lợn. Má có túi, chai mông lớn. Đuôi thường mập phần gốc, kém nửa chiều dài thân nhưng dài hơn 10% chiều dài thân và dài hơn bàn chân sau.
Sinh học, sinh thái:
Tuổi thành thục sau 35 tháng (Caldecott, 1986). Thời gian mang thai 171 ngày. Thời gian sống 26,3 năm (Melnick, 1994); Thức ăn chủ yếu là quả và hạt: 73,8%, thức ăn động vật chiếm khoảng 12,2% (Whitten 1982), lá 5%, chồi non 4,1%. Hoạt động kiếm ăn ban ngày, cả ở thung lũng rừng thưa trên núi đất gần núi đá trên cây cũng như dưới mặt đất. Mùa đông trú ẩn trong các hang đá, mùa hè trú ẩn trong các hốc đá hay cành cây. Cấu trúc đàn gồm nhiều đực và nhiều cái. Sống thành đàn từ 10 – 12 con, có đàn tới 40 con hoặc nhiều hơn nữa. Nhiều lúc sống thành nhóm nhỏ 4 – 5 con. Sinh cảnh thích hợp là rừng nguyên sinh ở đai thấp hay rừng thứ sinh, rừng ngập nước, rừng khô rừng trên núi đá tới 1.700m (Caldecott, 1986).
Phân bố:
Trong nước: Nghệ An (Pù Mát, Pù Hoạt, Pù Huống), Hà Tĩnh (Vũ Quang), Quảng Bình (Phong Nha – Kẻ Bàng, Minh Hoá, Quảng Ninh, Động Châu – Khe Nước Trong), Quảng Trị (Bắc Hướng Hoá, Đắk Rông), Thừa Thiên Huế (Bắc Hải Vân, Phong Điền, Bạch Mã, KBT Sao La), Quảng Nam (Sông Thanh, Đông Giang, Tây Giang, Núi Thành), Quảng Ngãi, Bình Định, Gia Lai (Kon Ka Kinh, Kon Cha Răng, A Yun Pa), Kontum (Chư Mom Ray, Sa Thầy, Kon Plông), Đắk Lắk (Ea Sô, Yôk Đôn), Đắk Nông (Tà Đùng), Lâm Đồng (Bidoup – Núi Bà), Bà Rịa-Vũng Tàu (Bình Châu – Phước Bửu), Đồng Nai (Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai, Cát Tiên), Tây Ninh (Lò Gò – Xa Mát), Ninh Thuận (Phước Bình), Bình Thuận (Tà Kou), Khánh Hòa (Hòn Bà), thành phố Hồ Chí Minh.
Nước ngoài: Bangladesh, Ấn Độ, Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Lào.
Giá trị:
Làm mẫu vật phục vụ các đối tượng nghiên cứu khoa học. Mặt khác nếu bảo vệ tốt chúng sẽ trở thành nguồn gen để thử nghiệm các loài Vaccine phục vụ đời sống con người..
Tình trạng:
Trước đây loài này còn gặp phổ biến ở các khu rừng ở các tỉnh miền Trung và Nam Việt Nam từ tỉnh Nghệ An tới tỉnh Kiên Giang, ước tính có khoảng 30 tiểu quần thể. Sinh cảnh sống của loài bị thu hẹp, chia cắt và suy thoái do mất rừng và khai thác lâm sản; loài này cũng bị săn bắt quá mức làm thực phẩm, dược liệu và nuôi làm cảnh; ước tính quần thể đã bị suy giảm > 30% trong vòng 40 năm qua.
Phân hạngVU A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục II CITES, Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh trong khu vực phân bố. Kiểm soát chặt chẽ tình trạng săn bắt, buôn bán trái pháp luật loài này ở trong nước và quốc tế

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 41.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae