Khỉ đuôi dài
| Tên tiếng Anh: | Crab-eating macaque |
|---|---|
| Tên Latin: | Macaca fascicularis |
| Đồng danh: | Macaca argentimembris Kloss, 1911 |
| Đồng danh: | Macaca condorensis Kloss, 1926 |
| Đồng danh: | Macaca mordax Thomas & Wronghton, 1909 |
| Đồng danh: | Macaca sublimitus Sody, 1932 |
| Tên khác: | Khỉ ăn cua |
- Độ cao so mặt nước biển 600 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Tình trạng bảo tồn Sắp nguy cấp VU: Vulnerable Sách đỏ Việt Nam năm 2023
- Giá trị sử dụng Có giá trị bảo tồn Cân bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn tự nhiên
- Sinh thái Thú kiếm ăn ban ngày Thú linh trưởng ăn tạp cả thực vật và động vật
KHỈ ĐUÔI DÀI
Macaca fascicularis (Rafles, 1821)
Macaca argentimembris Kloss, 1911
Macaca condorensis Kloss, 1926
Macaca mordax Thomas & Wronghton, 1909
Macaca sublimitus Sody, 1932
Họ: Khỉ Cercopithecidae
Bộ: Linh trưởng Primates
Đặc điểm nhận dạng:
Lông thường có màu từ xám đến nâu đỏ, phía sau cơ thể nhạt hơn. Lông trên đầu mọc hướng về sau. Thường có mào. Mặt có màu hồng. Con đực lớn thường có hai chỏm lông trắng trên miệng ở hai bên như bộ ria. Con cái có lông quanh mồm thưa hơn. Con non sinh ra có màu đen. Đuôi dài và được phủ lông tốt, chiều dài đuôi thường đạt 3/4 hoặc hơn so với chiều dài cơ thể.
Sinh học, sinh thái:
Tuổi trưởng thành vào lúc 50 – 51 tháng (Harvey, 1987). Thời gian mang thai 160 – 170 ngày (Nowak, 1991). Thời gian giữa hai lần sinh sản 13 tháng (12 – 24 tháng) (Ross, 1992). Thời gian sống 37 – 38 năm (Michael, 1993). Thức ăn chủ yếu là quả (64%), hạt, nõn cây, lá những phần khác của thực vật và động vật như côn trùng ếch nhái cua vv… (Payne, 1985). Chúng hoạt động vào ban ngày và trên cây. Loài này bơi rất giỏi và thường nhảy xuống nước từ cành cây. Con đực đầu đàn thường ít đánh dấu khu vực như các loài khỉ khác. Các con non thường đùa nghịch với nhau trong đàn. Chúng thường đùa với nhau trong vòng hai năm. Con đực thường đùa với con đực, con cái thường đùa với con cái. Rất hay ngồi thành nhóm ngay đường cái, không hoảng sợ khi xe chạy qua. Thường sống thành đàn, ít khi gặp một con. Đàn có cấu trúc nhiều đực, nhiều cái (Roonwal, 1977), trung bình 2,5 con cái 1 con đực. Chúng sống thành đàn từ 10 -100 con (Wolfheim, 1983). Sống trong rừng rậm nguyên sinh, thứ sinh, rừng tre nứa, rừng thường xanh, rừng thưa, bờ sông, ven biển, rừng ngập mặn ven biển, dọc theo các con sông tới độ cao 2000m (Wrangham, 1993).
Phân bố:
Trong nước: Kontum (Chư Mom Ray), Đắk Lắk (Ea Sô, Yôk Đôn), Đắk Nông (Tà Đùng), Lâm Đồng (Đa Nhim), Quảng Ngãi, Bình Định, Ninh Thuận (Phước Bình), Bình Thuận (Tà Kou), Đồng Nai (Cát Tiên, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu (Côn Đảo), Tây Ninh, Cà Mau (Đất Mũi, U Minh Hạ), Kiên Giang (Phú Quốc, U Minh Thượng), Thành phố Hồ Chí Minh (Cần Giờ), Khánh Hòa (Hòn Bà).
Nước ngoài: Ấn Độ, Bangladesh, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaysia, Singapore, Indonesia, Brunei, Philippines, Timor-Leste.
Giá trị:
Làm vật mẫu, đối tượng nghiên cứu khoa học. Mặt khác nếu bảo vệ và nhân nuôi tốt chúng sẽ trở thành nguồn động vật thử nghiệm các loài Vaccine phục vụ đồi sống con người.
Phân hạng: VU A2cd.
Tình trạng:
Loài này ghi nhận từ tỉnh Thừa Thiên Huế tới tỉnh Kiên Giang. Mặc dù loài này phân bố rộng sống ở nhiều dạng môi trường khác nhau, nhưng việc săn bắt quá mức làm thực phẩm, dược liệu, nuôi làm cảnh và những tác động tiêu cực đến sinh cảnh sống là nguyên nhân gây suy giảm quần thể; ước tính quần thể đã suy giảm > 30% trong khoảng 40 năm qua. Tiểu quần thể tại Côn Đảo (Macaca fascicularis condorensis) là loài phụ đặc hữu của Việt Nam, ước tính có khoảng 2,000 cá thể.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục II CITES, Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh trong khu vực phân bố. Kiểm soát chặt chẽ tình trạng săn bắt, buôn bán trái pháp luật loài này ở trong nước và quốc tế.
Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 38.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Dơi lá đuôi
Tên tiếng Anh:Intermediate horseshoe bat
Tên Latin:Rhinolophus affinis
Bướm đêm atlas
Tên tiếng Anh:Atlas moth
Tên Latin:Attacus atlas
Thằn lằn chân lá tạo
Tên tiếng Anh:Tao leaf-toed gecko
Tên Latin:Dixonius taoi
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae