TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Kẹp kìm lớn

Tên tiếng Anh: Big stag beetle
Tên Latin: Dorcus grandis
Đồng danh: Dorcus grandis grandis Didier, 1926
Đồng danh: Dorcus grandis Didier, 1926
Đồng danh: Dorcus grandis Didier, 1926
Đồng danh: Dorcus grandis grandis Didier, 1926
Tên khác: Kẹp kìm sừng cong lớn
  • Độ cao so mặt nước biển 1900 M
  • Mã định danh001
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

KẸP KÌM LỚN

Dorcus grandis Didier, 1926
Dorcus grandis grandis Didier, 1926
Họ: Kẹp kìm Lucanidae
Bộ: Cánh cứng Coleoptera

Đặc điểm nhận dạng: 
Năm 1962 loài Dorcus grandis này đã được ghi nhận là loài mới. Nhưng trong một thời gian dài chúng vẫn còn bị nghi ngờ vì chưa có mẫu vật cụ thể. Gần đây nó được phát hiện lại ở Vườn quốc gia Tam Đảo. Được coi như là loài mới rất gần với loài Dorcus antaeus. Đây là loài được xem là giống nhau nhất với Dorcus antaeus trong những loài kẹp kìm thuộc chi Dorcus và rất được những nhà nghiên cứu và sưu tầm bọ cánh cứng chú ý bởi kích thước rất lớn của chúng. Một số mẫu vật đã được thu thập có chiều dài trên 9cm. Đây là loài hiếm và rất khó bắt được chúng. Loài Dorcus grandis có 2 phân loài, ở Việt Nam chỉ ghi nhận phân loài Dorcus grandis grandis Didier, 1926
Sinh học, sinh thái:
Đã được thu thập và nghiên cứu từ phía Lào và Việt Nam. Tại Xieng Khouang của Lào gặp trên những loài thực vật được người dân địa phương gọi là Tonke. Ở Việt Nam chúng được thu thập trên những cây cây cổ thụ phân bố ở Vườn quốc gia Tam Đảo và rất dễ nhầm loài này với loài Bọ cánh cứng lớn của Đài Loan.
Giá trị:
Loài bọ cánh cứng có kích thước lớn có giá trị rất cao về khoa học, thẩm mỹ, thương mại. Có thể nuôi làm cảnh để phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học và làm công cụ cho học sinh, sinh viên tìm hiểu về vòng đời.
Phân bố:
Trong nước: Lai Châu (Phong Thổ, Tà Lèng), Lào Cai (Vườn quốc gia Hoàng Liên), Cao Bằng (Vườn quốc gia Phia Oắc – Phia Đén), Vĩnh Phúc (Vườn quốc gia Tam Đảo),
Nước ngoài: Trung Quốc, Thái Lan, Lào.
Tình trạng:
Kích cỡ quần thể của loài bị suy giảm ước tính trên 50% trong vòng 30 năm qua do thu hẹp và suy thoái sinh cảnh sống cũng như bị khai thác, buôn bán để làm cảnh. Loài này hiện chỉ ghi nhận ở 3 tỉnh miền núi phía Bắc với số lượng cá thể trưởng thành ghi nhận rất ít (thường không quá 2 cá thể trong một đợt khảo sát). Sinh cảnh sống của loài bị tác động do chuyển đổi đất rừng làm đất canh tác nông nghiệp, khai thác lâm sản, phát triển cơ sở hạ tầng và du lịch.
Phân hạng: EN A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Sinh cảnh sống của loài có một phần nằm trong các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn nên được bảo vệ. Đề xuất bảo vệ sinh cảnh trong vùng phân bố tự nhiên của loài; phục hồi quần thể trong tự nhiên; kiểm soát việc thu bắt và buôn bán bất hợp pháp loài này. Cấm bắt loài côn trùng này để buôn bán. Mặc dù đã được bảo vệ trong các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên. Nhưng cần hạn chế việc thu bắt, khai thác sinh cảnh sống của chúng.

Tài liệu tham khảo: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 33.

  • Documentation and reference sources:001

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae