TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Hoàng Vũ Trụ

Kẹp kìm lớn sừng cong

Tên tiếng Anh: Stag beetle
Tên Latin: Dorcus curvidens
Đồng danh: Lucanus curvidens Hope, 1840
Đồng danh: Lucanus curvidens Hope, 1840
Đồng danh: Dorcus curvidens (Hope, 1840)
Đồng danh: Dorcus curvidens (Hope, 1840)
Tên khác: Kẹp kìm sừng cong tam đảo

KẸP KÌM LỚN SỪNG CONG

Dorcus curvidens (Hope, 1840)
Lucanus curvidens Hope, 1840
Họ: Kẹp kìm Lucanidae
Bộ: Cánh cứng Coleoptera

Đặc điểm nhận dạng:
Bọ cánh cứng cỡ lớn, con đực cơ thể dài tới gần 80mm. là phân loài cũa Dorcus curvidens curvidens. Toàn thân màu đen tuyền, lông xúc biện miệng có màu vàng nâu. Sừng chẻ đôi từ đoạn giữa trông như gạc nai với đầu mút nhọn. Hai sừng chính cong đều về phía trước như hai vòng cung làm cho hình hài con vật rất cân đối, thon đẹp. Loài Dorcus curvidens có 3 phân loài, ở Việt Nam ghi nhận hai phân loài là Dorcus curvidens curvidens (Hope, 1840) và Dorcus curvidens babai Fujita, 2010. Phân loài Dorcus curvidens babai hiện chỉ ghi nhận ở Việt Nam.
Sinh học, sinh thái:
Sống trong các khu rừng ẩm nhiệt đới tự nhiên ở miền Bắc và Tây Nguyên. Đã được thu thập và nghiên cứu ở Việt Nam được ghi nhận sống trên những cây cây cổ thụ phân bố ở Vườn quốc gia Tam Đảo và rất dễ nhầm loài này với loài Dorcus grandis.
Phân bố:
Trong nước: Phân loài Dorcus curvidens curvidens phân bố ở Lai Châu (Mường Tè), Lào Cai (Vườn quốc gia Hoàng Liên), Hà Giang (Quản Bạ), Cao Bằng (Vườn quốc gia Phia Oắc – Phia Đén), Sơn La (Khu bảo tồn thiên nhiên Copia), Tuyên Quang (Khu bảo tồn loài sinh cảnh Lâm Bình – Sinh Long), Vĩnh Phúc (Vườn quốc gia Tam Đảo), Thanh Hóa (Vườn quốc gia Xuân Liên), Nghệ An (Vườn quốc gia Pù Mát). Phân loài Dorcus curvidens curvidens phân bố ở Gia Lai (Vườn quốc gia Kon Ka Kinh, Đăk Rong), Lâm Đồng (Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà, Bảo Lộc, Đà Lạt), Đăk Lăk (Vườn quốc gia Chư Yang Sin).
Nước ngoài: Ấn Độ, Bhutan, Lào, Myanmar, Thái Lan, Trung Quốc.
Giá trị:
Loài hiếm và chưa được nghiên cứu sâu về sinh thái. Có giá trị khoa học và thẩm mỹ. Mẫu vật có thể được sưu tầm trong bảo tàng tự nhiên giúp học sinh, sinh viên làm công cụ học tập và nghiên cứu.
Tình trạng:
Kích cỡ quần thể của loài này bị suy giảm ước tính > 30% trong vòng 30 năm qua do sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái cũng như bị khai thác, buôn bán làm tiêu bản trưng bày. Phân loài Dorcus curvidens curvidens ghi nhận ở 9 tỉnh phía Bắc; phân loài Dorcus curvidens babai ghi nhận ở 3 tỉnh Tây Nguyên với số lượng cá thể trưởng thành bắt gặp rất ít, thường dưới 5 cá thể trong một đợt khảo sát. Sinh cảnh sống của loài bị tác động do chuyển đổi đất rừng làm đất canh tác nông nghiệp, khai thác lâm sản, phát triển cơ sở hạ tầng và du lịch.
Phân hạng: VU A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài cánh cứng có kích thước lớn có giá trị rất cao về mọi mặt: khoa học, thẩm mỹ, thương mại. Trước mắt cần cấm bắt loài côn trùng này để buôn bán.Mặc dù đã được bảo vệ trong các khu bảo tồn thiên nhiên nhưng cần hạn chế việc thu bắt, khai thác sinh cảnh sống của chúng. Sinh cảnh sống của loài có một phần nằm trong các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn nên được bảo vệ. Đề xuất bảo vệ sinh cảnh trong vùng phân bố tự nhiên của loài; phục hồi quần thể trong tự nhiên; kiểm soát việc thu bắt và buôn bán bất hợp pháp loài này.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:001

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae