TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Hươu vàng

Tên tiếng Anh: Indian hog deer
Tên Latin: Axis porcinus
Đồng danh: Cervus porcinus Zimmermann, 1777
Đồng danh: Hyelaphus annamiticus Heude, 1888
Đồng danh:  Axis porcinus Zimmermann, 1780
Đồng danh: Axis annamiticus Heude, 1888
Tên khác: Hươu đầm lầy
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

HƯƠU VÀNG

Axis porcinus Zimmermann, 1780
Cervus porcinus Zimmermann, 1777
Hyelaphus annamiticus Heude, 1888
Axis annamiticus Heude, 1888
Họ: Hươu nai Cervidae
Bộ: Ngón chẵn Artiodactyla

Đặc điểm nhận dạng:
Cỡ trung bình trong bộ Ngón chẵn, thân dài khoảng 1,3 – 1,5 m. Trọng lượng 50 – 60 kg. Bộ lông ngắn mền, mầu vàng hung hay vàng xám. Lông ở lưng dài thô nhưng không tạo thành bờm. Sừng nhỏ, mảnh ngắn, có 2 – 3 nhánh (hai nhánh phụ, một nhánh chính) nhỏ hơn sừng Nai, nhưng lớn và dài hơn sừng hoẵng. Đế sừng ngắn hơn đế sừng Hoẵng.
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn là cỏ lá cây ở những khu vực ẩm ướt ven các đầm lầy, sông suối. Sinh sản của Hươu vàng ở Việt Nam còn chưa được nghiên cứu, theo tài liệu ở nước ngoài: chúng động dục và ghép đôi vào tháng 9, 10. Thời gian có chửa 8 tháng. Mỗi năm đẻ một lứa, mỗi lứa đẻ 1 con. Chúng sinh sống trong rừng thưa ven các sình lầy, sông suối, ở độ cao không quá 1.000 m so với mặt biển. Hoạt động kiếm ăn ban đêm, ban ngày nghỉ ngơi trong các lùm cây lau sậy rậm rạp hay đầm mình trong bùn nước. Sống đàn 20 – 30 con, có thể lẫn lộn với đàn Nai cà tông hoặc Nai xám. Kẻ thù tự nhiên của chúng có thể bị các loài thú ăn thịt lớn tấn công gây hại.
Phân bố:
Trong nước: Trước đây ghi nhận phân bố ở các tỉnh Kontum (Sa Thầy), Gia Lai, Đắk Lắk (Buôn Đôn, Ea Súp), Đắk Nông (Tà Đùng), Lâm Đồng (Di Linh, Bảo Lộc), Đồng Nai (Thượng nguồn sông La Ngà). Từ năm 2000 trở lại đây chưa ghi nhận lại, rất có thể đã tuyệt chủng trong tự nhiên nhưng cần có thêm nghiên cứu để khẳng định.
Nước ngoài: Ấn Độ, Bangladesh, Nepal, Pakistan, Sri Lanka, Trung Quốc, Myanmar, Campuchia, Thái Lan.
Giá trị:
Loài thú quý hiếm. Có thể thuần dưỡng nuôi trong các trang trại, trong gia đình (giống như nuôi Hươu sao) lấy nhung, thịt, xương, da hoặc nuôi bán tự nhiên trong các khu du lịch sinh thái để làm cảnh, giáo dục thiên nhiên.
Tình trạng:
Loài này trước đây ghi nhận phân bố ở một số tỉnh Tây Nguyên và Đồng Nai. Từ năm 2000 trở lại đây chưa ghi nhận lại được trong tự nhiên. Sinh cảnh sống của loài bị thu hẹp, chia cắt và suy thoái do xâm lấn đất rừng để canh tác nông nghiệp, khai thác lâm sản. Loài này bị săn bắt cạn kiệt làm thực phẩm, đôi khi bị buôn bán. Kích cỡ quần thể ước tính bị suy giảm > 90% trong vòng 30 năm qua.
Phân hạng: CR A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục I CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh ở các khu vực phân bố; kiểm soát chặt chẽ việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này; thực hiện các giải pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên và chương trình nhân nuôi bảo tồn chuyển chỗ.

Tài liệu dẫnSách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 45.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae