TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Nguyễn Trí Lâm

Hoẵng nam bộ

Tên tiếng Anh: Barking deer
Tên Latin: Muntiacus muntjak
Đồng danh: Cervus moschatus Blainville, 1816
Đồng danh: Cervus pleiharicus Kohlbrugge, 1896
Đồng danh: Muntiacus bancunus Lyon, 1907
Đồng danh: Muntiacus annamensis Kloss, 1928
Tên khác: Con đỏ
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

HOẴNG NAM BỘ

Muntiacus muntjak Kloss, 1928
Cervus moschatus Blainville, 1816
Cervus pleiharicus Kohlbrugge, 1896
Muntiacus bancunus Lyon, 1907
Muntiacus annamensis Kloss, 1928
Họ: Hươu nai Cervidae
Bộ: Ngón chẵn Artiodactyla

Đặc điểm nhận dạng:
Cỡ nhỏ, thân hình thon nhỏ, trọng lượng không quá 30kg. Bộ lông mầu vàng sẫm, bụng trắng giống như các phân loài hoẵng khác. Chỉ khác các phân loài hoẵng vó đen và hoẵng vó vàng là bốn chân mầu vàng, giữa hai móng guốc có vệt trắng rõ rệt. Đuôi ngắn.
Sinh hoc, sinh thái:
Thức ăn của chúng là lá cây, quả cây, cỏ…Mùa sinh sản vào hai thời kỳ trong năm, từ tháng 1- 3 và từ tháng 6 – 8. Thời gian có chửa: 180 – 200 ngày. Mỗi năm đẻ 1 lứa, mỗi lứa 1 con (rất ít trường hợp đẻ 2 con). Thường sống trong những cánh rừng thưa, rừng quanh nương rẫy, đồi cây, trảng cỏ cây bụi. Nơi ở quang đãng thoáng mát, khô ráo ven rừng và không cố định lâu dài. Hoạt động ban đêm từ chập tối đến gần sáng. Vùng hoạt động cá thể nhỏ 1 – 2 km2. Sống đơn độc, chỉ ghép đôi trong thời kỳ động dục.
Phân bố:
Trong nước: Phân bố rộng ở nhiều vùng rừng núi, trung du và hải đảo từ miền Bắc đến miền Nam. Từ Hà Giang, Phú Thọ, Nghệ An đến Kontum, Lâm Đồng (Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà), Đồng Nai (Vườn quốc gia Cát Tiên), Bình Phước (Vườn quốc gia Bù Gia mập).
Nước ngoài: Ấn Độ, Pakistan, Nepal, Sri Lanka, Trung Quốc, Myanmar, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia.
Giá trị:
Loài phổ biến và số lượng còn nhiều, nhưng là loài dễ nuôi, có thể thuần dưỡng chăn nuôi trong các vườn thú, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên và các khu du lịch sinh thái. Có giá trị khoa học, thẩm mỹ và du lịch.
Tình trạng:
Loài này phân bố rộng ở các khu vực miền núi và trung du trên địa bàn cả nước. Sinh cảnh sống của loài bị thu hẹp, chia cắt và suy thoái do xâm lấn đất rừng để canh tác nông nghiệp, khai thác lâm sản. Loài này bị săn bắt quá mức làm thực phẩm, đôi khi bị buôn bán làm cảnh. Kích cỡ quần thể ước tính bị suy giảm > 30% trong vòng 30 năm qua.
Phân hạng: VU A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên, nên được bảo vệ. Tuy nhiên vẫn rất cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh ở các khu vực phân bố; kiểm soát chặt chẽ việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này; thực hiện các giải pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên..

Tài liệu tham khảo: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 46.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae