TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Hoàng liên ba gai

Tên tiếng Anh: No english name
Tên Latin: Berberis wallichiana
Đồng danh: Berberis atroviridis Steud., 1840
Đồng danh: Berberis macrophylla Lindl., 1850
Đồng danh: Berberis poluninii Ahrendt, 1961
Đồng danh: Berberis atrovirens Wall. ex G.Don, 1831
Tên khác: Hoàng mộc, Hoàng nghêu

HOÀNG LIÊN BA GAI

Berberis wallichiana DC. 1824
Berberis atroviridis Steud., 1840
Berberis macrophylla Lindl., 1850
Berberis poluninii Ahrendt, 1961
Berberis atrovirens Wall. ex G.Don, 1831
Họ: Hoàng mộc Berberidaceae
Bộ: Mao lương Ranunculales

Đặc điểm nhận dạng:
Cây bụi, cao 2 – 3 m. Gỗ thân và rễ có màu vàng đậm, phân cành dài; cành vươn có lóng dài; có gai chia 3 nhánh, mọc dưới các túm lá. Lá mọc vòng (2) 3 – 5 cái, gần như không cuống; phiến lá hình thuôn dài, 3,5 – 10 x 1,5 – 2 cm, cứng, bóng ở mặt trên, mép khía răng cưa đều, nhọn sắc. Hoa nhiều, gồm 6 – 20 cái mọc giữa các túm lá. Hoa nhỏ, có cuống dài 1,5 – 2 cm, hoa màu vàng chanh; tổng bao 3, nhỏ, hình trứng. Đài 6, xếp 2 vòng; cánh hoa 6, hình thìa, có kích thước bằng nhau và dài hơn đài, mỗi cánh hoa có 2 tuyến nhầy. Noãn 1 (2). ủa thuôn, dài 0,6 – 0,7 cm; đầu nhuỵ tồn tại rõ, màu nâu đỏ khi chín màu tín đen. Hạt 1, gần hình trụ, màu nâu nhạt.
Sinh học và sinh thái:
Mùa hoa tháng 3 – 4, quả tháng 4 – 10 (11 hoặc 12). Khối lượng 1.000 hạt: 21,20 gam; tỷ lệ nảy mầm khi gieo 31,2%; thời gian nảy mầm từ 23 – 65 ngày. Cây con mọc từ hạt trong tự nhiên quan sát được vào tháng 4 và 5. Có khả năng tái sinh sau khi bị chặt phát. Cây ưa ẩm, chịu bóng khi còn nhỏ, sau ưa sáng; thích nghi với vùng có khí hậu á nhiệt đới núi cao. Thường mọc rải rác ở rừng cây bụi leo núi đá vôi, ở độ cao 1500 – 1600 m.
Phân bố:
Trong nước: Lào Cai (Sapa: núi Hàm Rồng; Bát Xát, Vườn quốc gia Hòang Liên).
Nước ngoài: Ấn Độ, Nepal, Trung Quốc, Myanma.
Giá trị:
Nguồn gen quý hiếm đối với Việt Nam. Trong rễ và thân có chứa berberin (3%); dùng làm thuốc chống nhiễm khuẩn đường tiêu hoá, chữa ỉa chảy, kiết lỵ và đau mắt đỏ.
Tình trạng:
Loài thực vật thuộc họ Hoàng mộc Berberidaceae có vùng phân bố hẹp, số lượng cá thể ít (ít hơn loài Berberis julianae). Điểm phân bố ở núi Hàm Rồng đã từng bị tàn phá, đồng thời cũng đã bị khai thác thu mua cùng với loài trên. Nguy cơ bị tuyệt chủng cao.
Phân hạng: EN A1c,d, B1+2b,c,e
Biện pháp bảo vệ:
Loài đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (1996) với cấp đánh giá “đang nguy cấp” (Bậc E) và Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm 1) của Nghị định số 32/2006/NĐ – CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ để nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. Bảo vệ những cá thể còn sót lại ở núi Hàm Rồng. Trồng được bằng hạt hay cành chiết. Khuyến khích người dân trồng làm hàng rào vườn và nương rẫy. Trồng bảo tồn ngoại vi (Ex situ) ở Vườn trại thuốc Sapa (Viện dược liệu).

Tài liệu tham khảo: Sách đỏ Việt Nam 2007 – phần thực vật – trang 129.

  • Documentation and reference sources:004

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae