TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Hổ châu á

Tên tiếng Anh: Tiger
Tên Latin: Panthera tigris
Đồng danh: Felis tigris Linnaeus, 1758
Đồng danh: Tigris striatus Severtzov, 1858
Đồng danh: Panthera tigris (Linnaeus, 1758)
Đồng danh: Tigris regalis Gray, 1867
Tên khác: Cọp
  • Độ cao so mặt nước biển 600 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

HỔ CHÂU Á

Panthera tigris (Linnaeus, 1758)
Felis tigris Linnaeus, 1758
Tigris striatus Severtzov, 1858
Tigris regalis Gray, 1867
Họ: Mèo Felidae
Bộ: Ăn thịt Carnivora

Đặc điểm nhận dạng:
Cỡ lớn nhất trong họ Mèo Felidae có thể nặng 200 – 250 kg. Nền lông vàng hoặc vàng sáng, phần bụng trắng. Mặt và dọc thân có nhiều sọc đen. Hổ dễ phân biệt bằng các dải đen này. Thế giới có 5 phân loài hổ. Hổ sống ở vùng Đông nam Á gồm cả Việt Nam thuộc phân loài Hổ Đông dương (Panthera tigris corbetti) có kích thước nhỏ hơn các phân loài khác.
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn gồm nhiều loài thú rừng và gia súc. Hổ sống và hoạt động ở vùng rừng núi với các kiểu rừng, kể cả vùng cây bụi lau lách, trảng cỏ tranh trong rừng. Hổ có vùng hoạt động rất lớn. Chúng không sống cố định, thường hoạt động di chuyển trong vùng rừng của 2 – 3 tỉnh kế cận, hoạt động ban đêm. Hổ có thể giao phối quanh năm nhưng tập trung vào một số tháng nhất định tuỳ từng vùng. Thời gian mang thai khoảng 100 ngày, mỗi lứa đẻ thường 2 – 3 con nhưng có thể hơn. Hổ con tách mẹ sống độc lập khi 18 – 28 tháng tuổi. Hổ cái bắt đầu sinh sản ở 3 – 4 năm tuổi, hổ đực trưởng thành muộn hơn 4 – 6 năm.
Phân bố:
Trong nước: Trước đây, ghi nhận ở nhiều khu vực rừng núi từ Lai Châu vào đến khu vực Tây Nguyên và Tây Ninh. Hiện nay không ghi nhận lại hổ ngoài tự nhiên kể từ ảnh chụp Hổ ở VQG Pù Mát vào năm 1999 (Nguồn Dự án FSNC).
Nước ngoài: Nga, Pakistan, Ấn Độ, Nepal, Bangladesh, Bhutan, Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia,Malaysia, Indonesia.
Giá trị:
Loài thú quí, hiếm có giá trị nghiên cứu khoa học, đồng thời góp phần điều hoà số lượng cá thể các quần thể con mồi trong tự nhiên
Tình trạng:
Loài này trước đây ghi nhận phân bố ở các khu rừng từ miền Bắc đến miền Nam, hiện nay hầu như không có thông tin ghi nhận hổ trong tự nhiên kể từ sau ghi nhận tại VQG Pù Mát vào năm 1999. Sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do mất rừng và nguồn thức ăn suy giảm. Loài này là đối tượng bị săn bắt cạn kiệt làm dược liệu và buôn bán; kích cỡ quẩn thể ước tính bị suy giảm > 90% trong vòng 40 năm qua (tiêu chuẩn A2cd). Kích cỡ quần thể ước tính < 50 cá thể.
Phân hạng: CR A2cd+D1.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục I CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nhóm IB Nghị định 84/2021/ NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Nhưng vẫn cần thiết bảo vệ sinh cảnh ở các khu vực phân bố tiềm năng; kiểm soát chặt chẽ việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này; thực hiện các giải pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên và nhân nuôi bảo tồn chuyển chỗ.

Tài liệu tham khảo: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae