Heo vòi
| Tên tiếng Anh: | Malayan tapir |
|---|---|
| Tên Latin: | Tapirus indicus |
| Đồng danh: | Tapirus sumatranus Gray,1821 |
| Đồng danh: | Tapirus bicolor Wagner, 1835 |
| Đồng danh: | Tapirus malayanus Raffles, 1821 |
| Đồng danh: | Tapirus indicus Desmarest, 1819 |
| Tên khác: | Lợn vòi |
- Độ cao so mặt nước biển M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Indonesia Malaysia Myanmar Kontum Khánh Hòa Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, Khánh Hòa Lâm Đồng Hầu khắp các tỉnh Tây nguyên Việt Nam Pakistan Vườn quốc gia Chư Mom Ray, Việt Nam Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà, Việt Nam
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng nửa rụng lá Rừng thường xanh núi cao Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa
HEO VÒI
Tapirus indicus Desmarest, 1819
Tapirus sumatranus Gray,1821
Tapirus malayanus Raffles, 1821
Tapirus bicolor Wagner, 1835
Họ: Heo vòi Tapiridae
Bộ: Móng guốc ngón lẻ Perissodactyla
Đặc điểm nhận dạng:
Hình dáng gần giống heo rừng, nhưng cỡ lớn hơn. Trọng lượng cơ thể 250 – 300kg. Mũi và môi trên kéo dài thành vòi ngắn. Toàn thân phủ lông ngắn dầy có hai mầu rõ rệt. Từ đầu cổ, ngực tới ngang vai lông mầu đen; từ ngang vai tới mông, bụng mầu trắng bạc. Bốn chân mầu đen. Bàn chân trước 4 ngón, bàn chân sau 3 ngón. Heo vòi con khi còn nhỏ toàn thân mầu đen điểm các vết lông trắng, khi trưởng thành Bộ lông chuyển sang hai mầu đen trắng.
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn chủ yếu là cỏ, cành lá cây, quả cây rụng, giun đất…. ở Thái Lan, Heo vòi sinh sản vào tháng 4, 5. Con sơ sinh có trọng lượng 6 – 7kg. Heo vòi sinh sống ở những vùng rừng ngập nước, ẩm thấp rậm rạp ven các sình lầy. Sống đơn độc, thích ngâm mình trong bùn nước. Hoạt động kiếm ăn nơi rừng thưa có thảm thực vật đa dạng.
Phân bố:
Trong nước: Trước đây một số tài liệu có nói đến việc săn bắt được Heo vòi ở bắc Trung bộ và Nam bộ. Nhưng cho đến nay vẫn chưa phát hiện được vùng cư trú. Có thể loài này đã bị tuyệt chủng ở Việt Nam.
Nước ngoài: Nam Myanmar, Thái Lan, Lào, Cambodia, Malaysia, Indonesia.
Giá trị:
Heo vòi là loài thú hiếm, thú cổ nhất trong bộ Móng guốc ngón lẻ, rất có giá trị nghiên cứu khoa học và giáo dục thiên nhiên..
Tình trạng:
Những năm gần đây nhân dân một số vùng Gia Lai, Kontum (Mo Ray, Ta Pốc, Kon Hà Nừng), Đắk Lắk (Đắk Nông), cho biết có gặp Heo vòi, nhưng những thông tin đó còn chưa được xác định cụ thể. Có thể Heo vòi đã bị tuyệt chủng ở Việt Nam.
Phân hạng: EX.
Biện pháp bảo vệ:
Đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam (1992 – 2000) và Danh lục đỏ IUCN (1996). Cần cấm săn bắn Heo vòi, điều tra vùng phân bố và nếu khi phát hiện lại cần tổ chức khoanh vùng bảo vệ ngay.
Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2000 – phần động vật – trang 112.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Bướm hải âu cam
Tên tiếng Anh:Orange albatross
Tên Latin:Appias nero
Bướm cỏ nâu đen
Tên tiếng Anh:No english name
Tên Latin:Nothodanis schaeffera
Rẽ lớn ngực đốm
Tên tiếng Anh:Great knot
Tên Latin:Calidris tenuirostris
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae