Heo rừng
| Tên tiếng Anh: | Wild boar |
|---|---|
| Tên Latin: | Sus scrofa |
| Đồng danh: | Sus andamanensis Blyth, 1858 |
| Đồng danh: | Sus aruensis Rosenberg, 1878 |
| Đồng danh: | Sus floresianus (Heude, 1899) |
| Đồng danh: | Sus goramensis De Beaux, 1924 |
| Tên khác: | Lợn rừng |
- Độ cao so mặt nước biển M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Tình trạng bảo tồn Loài phổ biến FS: Formal species
- Giá trị sử dụng Làm thực phẩm cho con người Chuỗi mắt xích của đa dạng sinh học
- Sinh thái Thú ăn tạp (gồm cả thực vật, động vật, côn trùng) Thú kiếm ăn cả ngày lẫn đêm
LỢN RỪNG
Sus scrofa Linnaeus, 1758
Sus andamanensis Blyth, 1858
Sus aruensis Rosenberg, 1878
Sus floresianus (Heude, 1899)
Sus goramensis De Beaux, 1924
Họ: Lợn Suidae
Bộ: Ngón chẵn Artiodactyla
Đặc điểm nhận dạng:
Lợn rừng nặng 40 – 200 kg, dài thân 1.350 – 1.500 mm, dài đuôi 200 – 300 mm. Thân ngắn, đầu lớn, ngực nở, phần mông nhỏ hơn phần đầu ngực. Bộ lông thô, cứng màu đen xám. Lông gáy dài, dày và rậm. Khi bị kích thích hàng lông này dựng lên trông con vật dữ tợn. Răng nanh thường phát triển to dài chìa ra ngoài môi. Lợn con có nhiều sọc vàng chạy dọc thân.
Sinh học, sinh thái:
Lợn rừng sống trong tất cả các dạng sinh cảnh, từ rừng thứ sinh, rừng thưa, ven các nương rẫy… Không sống trên núi đá. Không có nơi ở cố định. Sống đàn 5 – 20 con, kiếm ăn đêm (từ chập tối đến gần sáng), ngày nghỉ trong các bụi rậm. Thích đằm mình trong vũng nước. Mùa đông lợn làm tổ để nằm. Lợn rừng ăn tạp gồm các loại củ, quả giàu tinh bột, các loại quả cây rừng, măng tre nứa, chuối và nhiều động vật (nhái, ngoé, giun đất, ong..).
Lợn rừng sinh sản quanh năm, mang thai khoảng 4 tháng, đẻ mỗi năm một hoặc hai lứa, mỗi lứa 7 – 12 con. Lợn mẹ làm tổ đẻ rất chu đáo. Lợn con đẻ sau 30 phút có thể đi lại bình thường, một tuần sau có thể đi theo mẹ và trưởng thành sinh dục sau hai năm tuổi.
Phân bố:
Trong nước: Lợn rừng có mặt khắp các tỉnh miền núi và trung du, Đây là loài duy nhất thuộc họ Lợn Suidae phân bố ở nước ta.
Nước ngoài: Châu Âu, Châu Á, Bắc Phi.
Giá trị sử dụng:
Lợn rừng cho da lông, thực phẩm. Trong hoạt động kiếm ăn lợn rừng ủi đất làm cho đất tơi xốp, thoáng khí và hàng năm chúng thải ra cho đất rừng một lượng lớn phân và nước giải. Tuy nhiên lợn rừng cũng gây một số tác hại cho hoa màu lương thực trên nương rẫy, phá hoại măng tre nứa.
Tình trạng:
Số lượng lợn rừng ở nước ta còn tương đối nhiều. Ngành lâm nghiệp cần quản lý và sử dụng tốt nguồn lâm sản này để tăng nguồn thu nhập kinh tế. Hiện nay loài này đang được nuôi thương phẩm ở hầu khắp các tỉnh trong nước và là nguồn lợi kinh tế cao cho người dân.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán quá mức ở những khu vực loài này phân bố trong tự nhiên, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.
Mô tả loài: Bùi Tuấn Hải – Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Rắn ráo trâu
Tên tiếng Anh:Oriental ratsnake
Tên Latin:Ptyas mucosus
Rắn lục mũi hếch
Tên tiếng Anh:Hundred-pace viper
Tên Latin:Deinagkistrodon acutus
Ễnh ương vạch
Tên tiếng Anh:Siam narrowmouth toad
Tên Latin:Kaloula mediolineata
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae