TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Già đẫy lớn

Tên tiếng Anh: Greater adjutant
Tên Latin: Leptoptilos dubius
Đồng danh: Ardea dubius Gmelin,1789
Đồng danh: Leptoptilos dubius (Gmelin, 1789)
Đồng danh: Ardea dubius Gmelin,1789
Đồng danh: Leptoptilos dubius (Gmelin, 1789)
Tên khác: Già đẫy lớn
  • Độ cao so mặt nước biển 200 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

GIÀ ĐẪY LỚN

Leptoptilos dubius (Gmelin, 1789)
Ardea dubius Gmelin,1789
Họ: Hạc Ciconiidae
Bộ: Hạc Ciconiiformes

Đặc điểm nhận dạng:
Chim trưởng thành: Mùa hè: Đầu, túi cổ và cổ trần. Gáy, bên đầu và cổ có một số lông xoắn màu nâu thẫm. Phần dưới cổ có một vòng màu trắng. Mặt lưng, cánh, đuôi có màu đen hơi ánh lục. Lông cánh tam cấp và lông bao cánh lớn màu xám bạc. Ngực, sườn, bụng và dưới đuôi có màu trắng. Mùa đông: cánh đồng màu, không có vệt xám bạc. Mắt màu trắng hay vàng nhạt, mắt chim non màu xanh nhạt. Mỏ vàng nhạt hay lục nhạt. Mùa sinh sản, gốc mỏ hơi đỏ. Da trần ở đầu màu nâu nhạt chuyển dần thành đỏ gạch ở trên cổ và đen nhạt ở phía trước đầu, cổ màu vàng nhạt, túi cổ đỏ hồng ở phần cuối. Chân xám nhạt hay nâu sừng nhạt.
Chim non: Phần da trần ở đầu và cổ ít nhiều có phủ lông tùy chỗ. Lông cánh tam cấp và lông bao cánh lớn nâu thẫm.
Sinh học, sinh thái:
Sống ở các vùng bùn lầy, hồ, cánh đồng trồng lúa, rừng thưa, đồng cỏ và cánh đồng, vùng triều, cửa sông lớn.Thức ăn là cá có kích thước tương đối lớn, đôi khi ăn cả ếch nhái, rắn, côn trùng lớn, cũng có khi ăn lẫn với cách mò thức ăn của vịt. Hầu như chưa có dẫn liệu về sinh sản của loài này.
Phân bố:
Trong nước: Trước đây gặp ở Nam Bộ, Nam và Trung Trung Bộ, trước năm 1985 gặp rất ít ở rừng tràm U Minh Thượng, VQG Tràm Chim tỉnh Đồng Tháp.
Nước ngoài: Ấn Độ, Nepal, Bangladesh, Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia.
Giá trị:
Là nguồn gen qúy cho khoa học, loài chim có kích thước lớn hình dáng đẹp hấp dẫn cho tham quan du lịch.
Tình trạng:
Già đẫy lớn từng ghi nhận ở Trung Bộ và Nam Bộ, ghi nhận gần đây nhất là 1 cá thể tại Vườn quốc gia Tràm Chim (tỉnh Đồng Tháp) vào năm 2019; kích cỡ quần thể rất nhỏ và bị suy giảm do mất và suy thoái sinh cảnh sống, số lượng cá thể ghi nhận ước tính < 50 cá thể. Hiện trạng quần thể của loài ước tính khoảng 800 – 1,200 cá thể trưởng thành tương đương với 1,200 – 1,800 cá thể. Số liệu này dựa trên các ghi nhận 750 – 900 cá thể tại Ấn Độ và 150 – 200 cá thể tại Campuchia
Phân hạngCR D.
Biện pháp bảo vệ: 
Mất và suy thoái sinh cảnh sống, quấy nhiễu do các hoạt động của con người. Một phần sinh cảnh của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Đề xuất điều tra, giám sát quần thể loài tại Việt Nam; xây dựng kế hoạch bảo tồn loài, bảo vệ và phục hồi sinh cảnh sống trong vùng phân bố tự nhiên của loài; kiểm soát các hoạt động săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae