Gấu ngựa
| Tên tiếng Anh: | Moon bear |
|---|---|
| Tên Latin: | Ursus thibetanus |
| Đồng danh: | Selenacrtos thibetanus (G. Cuvier, 1823) |
| Đồng danh: | Ursus torquatus Wagner, 1841 |
| Đồng danh: | Melursus labiatus Blanford, 1876 |
| Đồng danh: | Selenacrtos thibetanus (G. Cuvier, 1823) |
| Tên khác: | Gụ ngựa |
- Độ cao so mặt nước biển 1000 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Ấn Độ Trung Quốc Myanmar Hầu khắp khu vực có rừng ở Việt Nam Vườn quốc gia Cát Tiên, Việt Nam Hầu khắp Đông nam Á Pakistan Vườn quốc gia Hoàng Liên, Việt Nam Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén, Việt Nam Vườn quốc gia Xuân Liên, Việt Nam
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng thường xanh núi cao Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa
- Tình trạng bảo tồn Cực kỳ nguy cấp: CR: Critically endangered Sách đỏ Việt Nam năm 2023
- Giá trị sử dụng Có giá trị bảo tồn Chuỗi mắt xích của đa dạng sinh học Cân bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn tự nhiên Bảo tồn tại chỗ để giữ lại nguồn gen trong tự nhiên
- Sinh thái Thú ăn tạp (gồm cả thực vật, động vật, côn trùng) Thú kiếm ăn ban ngày Thú ăn trái cây và hút ngụy hoa, mật quả
GẤU NGỰA
Ursus thibetanus Cuvier, 1823
Selenacrtos thibetanus (G. Cuvier, 1823)
Melursus labiatus Blanford, 1876
Ursus torquatus Wagner, 1841
Họ: Gấu – Ursidae
Bộ: Thú ăn thịt Carnivora
Đặc điểm nhận dạng:
Thú cỡ lớn, nặng 80 -180kg (trong nuôi nhốt có thể 200kg). Gấu ngựa có dáng thân thô béo, trán rộng, tai tròn; chân trước và chân sau có 5 ngón; vuốt khoẻ nhọn và cong; đi bằng bàn; bàn chân sau dài có gót gần giống dấu bàn chân người. Bộ lông dài thô mầu đen tuyền, lông hai bên cổ dài tạo thành bờm. Ngực có yếm hình chữ V mầu vàng nhạt hoặc trắng bẩn. Đuôi rất ngắn, không thò ra khỏi bộ lông.
Sinh học, sinh thái:
Ngoài thiên nhiên gấu chủ yếu ăn thực vật: hạt dẻ, quả sung, vả, quả cọ, chuối, ngô, măng tre nứa,… Gấu cũng ăn động vật: cá, mật ong, trứng chim và thịt động vật khác nếu có điều kiện. Gấu ăn tạp, trong nuôi nhốt gấu ăn nhiều loại thức ăn của người. Gấu sống và hoạt động chủ yếu ở rừng già, rừng đầu nguồn, rừng hỗn giao, rừng khộp, rừng tre nứa; đôi khi đến kiếm ăn ở các nương rẫy cạnh rừng. Gấu không làm tổ cố định, thường làm tổ nghỉ ở hốc đá, hốc cây, có khi bẻ cành làm tổ nghỉ tạm trên cây lớn. Gấu sống độc thân, chỉ ghép đôi vào mùa động dục. Gấu mẹ nuôi con. Tuy hình dáng có vẻ nặng nề nhưng gấu rất lanh lợi, hiếu động, leo trèo, bơi lội giỏi. Gấu rất thích ăn mật ong và ong non, chúng thường leo các cây cao tìm phá tổ ong trong thân cây để ăn.
Gấu đẻ hầu như quanh năm. Mỗi lứa 1 – 4 con, thường 2 con (không có bất cứ ghi nhận nào sinh sản trong môi trường nuôi nhốt). Gấu con sống với mẹ 1,5 – 2 năm mới tách đàn. Thường gặp đàn gấu mẹ đi cùng con vào các tháng 9 – 11. Gấu thay lông vào tháng 2 – 3.
Phân bố:
Trong nước: Trước đây ghi nhận ở hầu hết các khu vực rừng từ miền Bắc vào đến Tây Nguyên. Hiện nay ghi nhận ở các tỉnh: Điện Biên (Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé), Yên Bái (Mù Cang Chải), Sơn La (Mường La), Lao Cai (Vườn quốc gia Hoàng Liên), Cao Bằng (Trùng Khánh, Vườn quốc gia Phia Oắc-Phia Đén), Thanh Hoá (Pù Luông, Vườn quốc gia Xuân Liên), Nghệ An (Pù Hoạt, Pù Huống, Vườn quốc gia Pù Mát), Hà Tĩnh (Vườn quốc gia Vũ Quang), Quảng Bình (Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, Khu bảo tồn thiên nhiên Động Châu-Khe nước trong), Quảng Trị (Bắc Hướng Hoá, Đăkrông), Thừa Thiên Huế (Sao La Huế, Vườn quốc gia Bạch Mã), Quảng Nam (Sao La Quảng Nam, Vườn quốc gia Sông Thanh), Kontum (Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh, Vườn quốc gia Chư Mom Ray, Kon Plông), Gia Lai (Vườn quốc gia Kon Ka Kinh, Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Cha Răng), Đắk Lắk (Vườn quốc gia Chư Yang Sin), Đắk Nông (Vườn quốc gia Tà Đùng, Nam Nung), Lâm Đồng (Cát Lộc), Đồng Nai (Vườn quốc gia Cát Tiên), Bình Phước (Vườn quốc gia Bù Gia Mập).
Nước ngoài: Afghanistan, Bangladesh, Bhutan, Pakistan, Nga, Ấn Độ, Nepal, Trung Quốc (kể cả Đài Loan), Hàn Quốc, Nhật Bản, Myanmar, Nepal, Campuchia, Lào, Thái Lan, Indonesia.
Giá trị:
Có giá trị nghiên cứu khoa học nhằm tìm hiểu tập tính, sinh thái loài trong tự nhiên và giá trị làm cảnh khi nuôi ở công viên, sở thú.
Tình trạng:
Loài này phân bố rộng từ miền Bắc vào miền Nam nhưng hiện cực kỳ hiếm gặp trong tự nhiên do bị săn bắt cạn kiệt làm dược liệu và buôn bán. Sinh cảnh sống bị thu hẹp, chia cắt và suy thoái do suy giảm diện tích rừng tự nhiên và khai thác lâm sản. Kích cỡ quẩn thể ước tính bị suy giảm > 80% trong 40 năm qua. Ước tính số lượng cá thể của loài này ở Việt Nam < 250 và số lượng cá thể trưởng thành của mỗi tiểu quần thể < 50.
Phân hạng: CR A2cd+C2a(i).
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục I CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Đề xuất bảo vệ sinh cảnh ở các khu vực phân bố; kiểm soát chặt chẽ việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này; thực hiện các giải pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên và chương trìnhnhân nuôi bảo tồn chuyển chỗ..
Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Bói cá lớn
Tên tiếng Anh:Crested kingfisher
Tên Latin:Megaceryle lugubris
Gà lôi lam mào đen
Tên tiếng Anh:Imperial pheasant
Tên Latin:Lophura imperialis
Rắn lục hoa cân
Tên tiếng Anh:Wagler's pit viper
Tên Latin:Tropidolaemus wagleri
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae