Gấu chó
| Tên tiếng Anh: | Sun bear |
|---|---|
| Tên Latin: | Ursus malayanus |
| Đồng danh: | Helarctos malayanus (Raffles, 1821) |
| Đồng danh: | Helarctos annamiticus Heude, 1901 |
| Đồng danh: | Helarctos malayanus (Raffles, 1821) |
| Đồng danh: | Helarctos annamiticus Heude, 1901 |
| Tên khác: | Gụ lợn |
- Độ cao so mặt nước biển 800 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Indonesia Malaysia Ấn Độ Trung Quốc Hầu khắp khu vực có rừng ở Việt Nam Vườn quốc gia Cát Tiên, Việt Nam Pakistan Vườn quốc gia Xuân Sơn, Việt Nam Vườn quốc gia Bến En, Việt Nam Vườn quốc gia Yok Don, Việt Nam
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng kín lá rộng nửa rụng lá nhiệt đới Rừng khộp Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa
- Tình trạng bảo tồn Cực kỳ nguy cấp: CR: Critically endangered Sách đỏ Việt Nam năm 2023
- Giá trị sử dụng Có giá trị bảo tồn Chuỗi mắt xích của đa dạng sinh học Cân bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn tự nhiên Bảo tồn tại chỗ để giữ lại nguồn gen trong tự nhiên
- Sinh thái Thú ăn tạp (gồm cả thực vật, động vật, côn trùng) Thú kiếm ăn ban ngày Thú ăn trái cây và hút ngụy hoa, mật quả
GẤU CHÓ
Helarctos malayanus (Raffles, 1821)
Helarctos annamiticus Heude, 1901
Họ: Gấu Ursidae
Bộ: Thú ăn thịt Carnivora
Đặc điểm nhận dạng:
Loài thú cỡ lớn, nặng 50 – 100 kg. Gấu chó có thân hình béo tròn, trán rộng, tai tròn không vểnh cao như gấu ngựa. Chân trước và sau 5 ngón, vuốt nhọn cong khoẻ, chân trước đi vòng kiềng, đi bằng bàn. Dấu bàn chân sau có gót dài gần giống bàn chân trẻ em. Bộ lông mầu đen tuyền, ngắn và tương đối mịn đều, không thô như gấu ngựa; ở mõm sáng vàng. Lông cổ ngắn không tạo bờm, có xoáy ở bả vai. Lông trán và mặt sau vành tai mọc thành xoáy (khác với Gấu ngựa Ursus thibetanus).Yếm ngực hình chữ U mầu vàng nhạt, có trường hợp yếm ngực bị ngắt quãng, không thành chữ U rõ rệt. Đuôi rất ngắn, không nhô ra khỏi bộ lông.
Sinh học, sinh thái:
Trong tự nhiên gấu chó chủ yếu ăn thực vật, các loại quả hạt như hạt dẻ, quả sung, vả, quả cọ, chuối, ngô, măng tre, nứa… Chúng cũng ăn cá, mật ong, trứng chim và thịt động vật khác nếu có điều kiện. Là loài thú ăn tạp. Trong môi trường nuôi nhốt chúng có thể sử dụng nhiều loại thức ăn của người. Gấu chó sống ở rừng thường xanh, rừng đầu nguồn, rừng khộp, chủ yếu ở những khu rừng lớn, đặc biệt là rừng trên núi đá vôi. Tuy hình dáng nặng nề nhưng gấu chó rất lanh lợi. Leo trèo và bơi lội giỏi, rất thích tắm nước. Chúng không có tổ cố định mà thường ngủ, nghỉ ngơi hoặc làm tổ ở hốc cây, hoặc trên cây. Sống độc thân, chỉ ghép đôi trong mùa động dục hoặc nuôi con. Mang thai khoảng trên 3 tháng, đẻ mỗi năm 1 lứa, 2 – 4 con non, thường 2 con (chưa ghi nhận sinh sản trong môi trường nuôi nhốt). Gấu con sống với mẹ 1,5 – 2 năm. Tuổi thọ trong điều kiện nuôi tới 20 năm.
Phân bố:
Trong nước: Điện Biên (Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé), Phú Thọ (Vườn quốc gia Xuân Sơn), Thái Nguyên (Kim Hỷ), Bắc Giang (Tây Yên Tử), Thanh Hoá (Vườn quốc gia Xuân Liên, Vườn quốc gia Bến En, Pù Hu), Nghệ An (Pù Hoạt, Vườn quốc gia Pù Mát), Hà Tĩnh (Hương Sơn, Kẻ Gỗ), Quảng Bình (Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng), Quảng Trị (Bắc Hướng Hoá, Đăkrông), Thừa Thiên Huế (Phong Điền), Quảng Nam (Quế Sơn, Tây Giang, Trà My), Bình Định, Bình Thuận (Tánh Linh), Gia Lai (A Yun Pa), Kontum (Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh, Kon Plông), Đắc Lắk (Ea Sô, Vườn quốc gia Yok Đôn, Vườn quốc gia Chư Yang Sin), Lâm Đồng (Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà), Đồng Nai (Vườn quốc gia Cát Tiên), Tây Ninh.
Nước ngoài: Bangladesh, Ấn Độ, Trung Quốc (kể cả Đài Loan), Myanmar, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Brunei.
Giá trị:
Có giá trị nghiên cứu khoa học nhằm tìm hiểu tập tính, sinh thái loài trong tự nhiên và giá trị làm cảnh khi nuôi ở công viên, sở thú.
Tình trạng:
Loài này phân bố rộng từ miền Bắc vào miền Nam nhưng hiện cực kỳ hiếm gặp trong tự nhiên do bị săn bắt cạn kiệt làm dược liệu và buôn bán. Sinh cảnh sống bị thu hẹp, chia cắt và suy thoái do suy giảm diện tích rừng tự nhiên và khai thác lâm sản. Kích cỡ quẩn thể ước tính bị suy giảm > 80% trong 40 năm qua (tiêu chuẩn A2cd). Ước tính số lượng cá thể của loài này ở Việt Nam < 250 và số lượng cá thể trưởng thành của mỗi tiểu quần thể < 50.
Phân hạng: CR A2cd+C2a(i).
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục I CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nhóm IB Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Đề xuất Bảo vệ sinh cảnh ở các khu vực phân bố; kiểm soát chặt chẽ việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này; thực hiện các giải pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên và chương trìnhnhân nuôi bảo tồn chuyển chỗ.
Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Nhái cây sừng
Tên tiếng Anh:Horned bushfrog
Tên Latin:Gracixalus supercornutus
Cam biển
Tên tiếng Anh:Sea orange
Tên Latin:Pleiospermium littorale
Chuột chù nước miền nam
Tên tiếng Anh:Asian water shrew
Tên Latin:Chimarrogale varennei
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae