TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Internet download

Gà lôi tía

Tên tiếng Anh: Temminck's tragopan
Tên Latin: Tragopan temminckii
Đồng danh: Tragopan temminckii (Gray, 1831)
Đồng danh: Tragopan temminckii (Gray, 1831)
Đồng danh: Tragopan temminckii (Gray, 1831)
Đồng danh: Tragopan temminckii (Gray, 1831)
Tên khác: Gà túi
  • Độ cao so mặt nước biển 3000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

GÀ LÔI TÍA

Tragopan temminckii (Gray, 1831)
Họ: Trĩ Phasianidae
Bộ: Gà Galliformes

Đặc điểm nhận dạng:
Con đực trưởng thành nhìn chung bộ lông màu đỏ lửa, đỏ nâu và lẫn đen. Da quanh mắt màu xanh hơi thẫm, yếm xanh da trần thẫm hơi phớt vàng có chấm đỏ. Trán, trước mắt, sau mắt, phần trước của mào lông ở gáy, hai bên đầu, quanh yếm cổ màu đen. Lưng có sao tròn nâu nhạt viền đen. Lông cánh đen nhạt, có vằn và có vệt màu hung đỏ. Mặt dưới cơ thể nâu sáng. Đuôi nâu hung vàng nhạt có chấm và vạch đen. Con đực non có màu giống như chim cái, nhưng cỡ lớn hơn một chút, trên đầu có khi có màu đỏ lẫn đen. Phần ngực trên đen thẫm. Con cái trưởng thành tương tự như con đực nhưng bộ lông có vệt đen hung và trắng, nhìn không đẹp, không hấp dẫn bằng con đực. Cả con đực và cái đều có mỏ đen, mắt nâu, chân màu hồng.
Sinh học, sinh thái:
Theo các thợ săn người H’mông ở gần núi Fansipan thì Gà lôi tía đẻ trứng vào tháng 4, gặp chim non rời tổ vào tháng 7. Mỗi lứa đẻ 3 – 5 trứng. Trứng cỡ nhỏ, hình bầu dục, một đầu to một đầu nhỏ màu hung nhạt có lốm đốm chấm nâu. Điều khác biệt với các loài chim khác trong họ Trĩ là Gà lôi tía này làm tổ trên cành cây. Gà đẻ vào tháng 4, 7 – 8 trứng và thời gian ấp là 28 ngày. Các thợ săn địa phương cho biết chúng ăn các loại quả, hạt quả cây trong rừng, côn trùng, giun đất.
Gà lôi tía sống định cư theo đàn nhỏ 3 – 5 con ở sâu trong rừng thường xanh rậm độ ẩm cao nguyên, thứ sinh trên độ cao 900 đến trên 2.700m. Các thợ săn H’ mông xã Tà Phìn (Sapa) đã gặp Gà lôi tía ở độ cao trên 2.500m, thỉnh thoảng gặp ở độ cao 3.000m. Ban ngày kiếm ăn ở mặt đất, ban đêm bay lên các bụi cây thấp đậu ngủ.
Phân bố:
Trong nước: Lào Cai (núi Fansipan thuộc Vườn quốc gia Hoàng Liên) trên độ cao 2.000 – 3.000m, Yên Bái (Khu bảo tồn loài – sinh cảnh Mù Cang Chải) ở độ cao 1.600 m.
Nước ngoài: Trung Quốc, Ấn Độ, Myanmar.
Giá trị:
Loài có vùng phân bố hẹp, quý, rất hiếm của Việt Nam. Loài chim cảnh rất đẹp, có giá trị khoa học, thương mại, vì vậy có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo vệ đa dạng sinh học toàn cầu.
Tình trạng:
Ở Việt Nam, vùng phân bố của loài này bị phân mảnh, hiện chỉ ghi nhận tại VQG Hoàng Liên (tỉnh Lào Cai), diện tích phạm vi phân bố < 100 km2; sinh cảnh sống của loài bị suy thoái do xâm lấn đất rừng, khai thác lâm sản và phát triển du lịch (tiêu chuẩn B1ab(iii)); kích cỡ quần thể rất nhỏ và suy giảm, ước tính < 250 cá thể và số lượng cá thể trưởng thành của mỗi tiểu quần thể < 50.
Phân hạngCR B1ab(iii) + C2a(i).
Biện pháp bảo vệ:
Gà lôi tía có tên trong Nghị định số 64/2019/NĐ-CP và Nghị định số 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh nằm trong VQG Hoàng Liên nên được bảo vệ. Cần điều tra, giám sát hiện trạng quần thể của loài. Bảo vệ và phục hồi sinh cảnh sống trong vùng phân bố tự nhiên của loài; kiểm soát các hoạt động săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 270.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae