TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Gà lôi lam đuôi trắng

Tên tiếng Anh: Vietnamese pheasant
Tên Latin: Lophura hatinhensis
Đồng danh: Lophura hatinhensis Vo Quy et al., 1975
Đồng danh: Lophura hatinhensis Vo Quy et al., 1975
Đồng danh: Lophura hatinhensis Vo Quy et al., 1975
Đồng danh: Lophura hatinhensis Vo Quy et al., 1975
Tên khác: Gà lôi lam hà tĩnh
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

GÀ LÔI LAM ĐUÔI TRẮNG

Lophura hatinhensis Vo Quy et al., 1975
Họ: Trĩ Phasianidae
Bộ: Gà Galliformes

Đặc điểm nhận dạng:
Gà lôi lam đuôi trắng giống loài Gà lôi lam mào trắng Lophura edwardsi chỉ khác là có 4 lông đuôi ở giữa màu trắng tuyền ở con đực và cái. Có vài cá thể đực có tới 7 lông đuôi giữa trắng.
Sinh học, sinh thái:
Mùa sinh sản của gà lôi lam đuôi trắng kéo dài từ tháng 2 – 7. Tìm thấy 3 chim non rời tổ vào ngày 6/6/1987. Quan sát thấy 4 con rời tổ vào 6/1994 ở vùng ranh giới phía nam tỉnh Hà Tĩnh (Kỳ Anh) và Quảng Bình (Tuyên Hoá), đồng thời thu một mẫu con đực ở gần xóm Trung Thành xã Kỳ Thượng (Kỳ Anh) và gặp một con đực khác cùng địa điểm ngủ đêm trên cây gỗ nhỏ cao 5-6 m vào lúc sáng sớm. Gà lôi lam đuôi trắng, nuôi ở Vườn thú Hà Nội kéo dài từ tháng 2 – 7, đẻ và ấp trứng từ tháng 2 – 4. Mỗi lứa đẻ 5 – 7 trứng hình bầu dục, đầu to đầu nhỏ, vỏ trứng màu hồng nhạt hay hung nâu (ca cao), có nhiều chấm trắng nhỏ. Thời gian ấp là 22 – 23 ngày.
Giống các loài Gà lôi khác, Gà lôi lam đuôi trắng ăn các loại quả, hạt quả, lá, mầm non một số loại cây trong rừng. Ngoài ra chúng ăn thêm giun đất, ốc nhỏ, nhiều loài côn trùng. Theo Đặng Gia Tùng (1998), Gà lôi lam đuôi trắng nuôi tại Vườn thú Hà Nội thích ăn ngô hạt, thóc hạt, cơm, lạc hột, chuối tiêu chín, nho qủa, rau xà lách, giá đỗ xanh và châu chấu, giun đất, con ốc vặn, thịt lợn nạc…
Gà lôi lam đuôi trắng sống đôi hoặc đàn nhỏ 3 – 5 con và có thể hơn ở các sườn đồi thấp và thung lũng ven suối có độ cao 50 – 200m, nơi có rừng nguyên, thứ sinh, rừng hồi phục sau khai thác ở mức độ khác nhau, dưới tán rừng hỗn giao (cây cọ, lá nón, song mây, tre, nứa thấp mọc thưa). Có thể gặp ở rừng trồng cây mỡ (Manglitia glauca) ở khu vực Cát Bịn huyện Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh). Trong cùng sinh cảnh còn gặp một số loài Chim trĩ khác như Trĩ sao, Gà lôi trắng, Gà lôi hông tía, Gà tiền mặt vàng, Gà so họng vàng và Gà so ngực gụ… Ban ngày kiếm ăn ở mặt đất, ban đêm bay lên cành cây đậu ngủ.
Phân bố:
Trong nước: Hà Tĩnh (Hương Khê, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh), Quảng Bình (Tuyên Hóa, Minh Hóa).
Nước ngoài: Chưa có dẫn liệu.
Giá trị:
Loài quý hiếm đặc hữu của Việt Nam có phân bố hẹp ở vùng Bắc trung bộ. Có giá trị khoa học cao, làm tiêu bản sống để giáo dục sinh viên, học sinh về đa dạng sinh học các loài chim.
Tình trạng:
Rừng tự nhiên nơi phân bố trước đây bị khai thác mạnh, vì thế phần lớn vùng sống bị mất dần và bị thu hẹp nhanh chóng; đồng thời luôn bị tác động mạnh của các hoạt động khác của con người và bị săn bắt thường xuyên cho nên số lượng chúng bị giảm sút nhanh và ở mức đe doạ nghiêm trọng. Năm 1994 lần đầu tiên mới lại quan sát được 10 cá thể gà lôi lam đuôi trắng ở vùng giữa ranh giới Hà Tĩnh với Quảng Bình.
Biện pháp bảo vệ:
Đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam (1992, 2000), IUCN (1996, 2000), Nghị định 18/HĐBT (1992) và Nghị định 48/ NĐ-CP (2002). Sách Đỏ  Châu Á (2001). Danh sách các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các phụ lục của công ước CITES. Khu Bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ đã được thành lập (1996) nhằm bảo vệ gà lôi lam đuôi trắng hữu hiệu. Cần triệt để nghiêm cấm các hình thức săn bắt ở tất cả các khu vực có gà lôi lam đuôi trắng sinh sống. Tiếp tục nghiên cứu về hiện trạng và phân bố, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao dân trí trong nhân dân ở các vùng đệm của Khu bảo tồn thiên nhiên.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2010 – phần động vật – trang 260.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae