Ễnh ương
| Tên tiếng Anh: | Banded bullfrog |
|---|---|
| Tên Latin: | Kaloula pulchra |
| Đồng danh: | Callula macrodactyla Boulenger, 1887 |
| Đồng danh: | Calohyla pulchra (Gray, 1831) |
| Đồng danh: | Caloula pulchra (Gray, 1831) |
| Đồng danh: | Hylaedactylus bivittatus Cantor, 1847 |
| Tên khác: | Ễnh ương vạch |
- Độ cao so mặt nước biển 600 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Tình trạng bảo tồn Chưa được đánh giá NE: Not evaluated
- Giá trị sử dụng Làm thực phẩm cho con người Loài cần được nghiên cứu, bảo tồn
- Sinh thái Ăn thực vật dưới nước giai đoạn đầu Ăn các loài động vật khi di chuyển lên cạn Lưỡng cư kiếm ăn ban đêm
ỄNH ƯƠNG
Kaloula pulchra Gray, 1831
Callula macrodactyla Boulenger, 1887
Calohyla pulchra (Gray, 1831)
Caloula pulchra (Gray, 1831)
Hylaedactylus bivittatus Cantor, 1847
Họ: Nhái bầu Microhylidae
Bộ: Không đuôi Anura
Đặc điểm nhận dạng:
Loài lưỡng cư có đầu nhỏ, miệng hẹp, thân bầu và mập. Dài thân khoảng 70 – 80mm. Lưng màu nâu, ngang mắt có vạch vàng. Mỗi bên thân là một vạch rộng màu nâu sáng, vàng hay hơi hồng chạy từ sau mắt đến háng. Đầu ngón tay phình với đĩa ngón tay bị xén ngang. Chân rất ngắn, thậm chí có khi chân vuông góc với thân, gót cách nhau đến 10mm. Khi đụng vào cơ thể chúng loài này tiết ra chất nhờn rất dính và khó rửa sạch.
Sinh học, sinh thái:
Loài này thường sống phổ biến ở vùng trung du, miền núi và cả vùng đồng bằng ven biển. Ở các khu vực độ cao trên 400m chúng sống trong các bọng nước trên cây và có khả năng leo trèo. Chỉ xuất hiện vào 2 tháng đầu mùa mưa kiếm ăn và giao phối, đẻ trứng. Thời gian còn lại chúng ngủ triền miên trong hang đất hoặc các hốc cây, hốc đá… Thức ăn của loài này là các loài côn trùng nhỏ như kiến, mối. Mùa sinh sản từ tháng 3 – 5 hàng năm, khi ghép đôi chúng thường kêu rất to và vang khắp.
Phân bố:
Trong nước: Đây là loài có vùng phân bố rất rộng và hầu khắp ở Việt Nam Lạng Sơn, Ninh Bình, Hà Nội (Ba Vì), Huế, Kontum, Gia Lai và ở Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu (Núi Dinh) đến Kiên Giang.
Nước ngoài: Ấn Độ, Myanmar, Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Campuchia.
Giá trị:
Là loài khá phổ biến và số lượng còn nhiều do không bị săn bắt làm thức ăn. Có giá trị nghiên cứu khoa học về sinh thái và tập tính của loài.
Tình trạng:
Do việc khai thác rừng làm mất sinh cảnh sống của chúng trong tự nhiên nên số lượng loài cũng bắt đầu suy giảm. Cần bảo vệ nơi loài này phân bố.
Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung, Phạm Thế Cường – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Bướm giáp nâu xanh ấn độ
Tên tiếng Anh:Indian yellow nawab
Tên Latin:Polyura jaylysus
Cáo lửa
Tên tiếng Anh:Red fox
Tên Latin:Vulpes vulpes
Tầm gửi trung bộ
Tên tiếng Anh:No english name
Tên Latin:Macrosolen annamicus
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae