Ễnh ương vạch
| Tên tiếng Anh: | Siam narrowmouth toad |
|---|---|
| Tên Latin: | Kaloula mediolineata |
| Đồng danh: | Callula mediolineata Smith, 1917 |
| Đồng danh: | Callula mediolineata Smith, 1917 |
| Đồng danh: | Callula mediolineata Smith, 1917 |
| Đồng danh: | Callula mediolineata Smith, 1917 |
| Tên khác: | Ếch òn |
- Độ cao so mặt nước biển 600 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Tình trạng bảo tồn Loài phổ biến FS: Formal species
- Giá trị sử dụng Làm thực phẩm cho con người Chuỗi mắt xích của đa dạng sinh học
- Sinh thái Lưỡng cư (vòng đời trải qua 2 giai đoạn dưới nước và trên cạn) Lưỡng cư kiếm ăn ban đêm
ỄNH ƯƠNG VẠCH
Kaloula mediolineata Smith, 1917
Callula mediolineata Smith, 1917
Họ: Nhái bầu Microhylidae
Bộ: Không đuôi Anura
Đặc điểm nhận dạng:
Thân thon dài, chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 40.6 – 42 mm ở con đực và 60.2 mm ở con cái. Đầu dài hơn rộng (Dài đầu 15.4 – 17.3 mm, rộng đầu 13.4 – 15 mm ở con đực. Dài đầu 22 mm và rộng đầu 18.6 mm ở con cái). Mõm nhọn ở góc nhìn lưng, nhô ra khỏi hàm dưới (RL 6.3 – 6.8 mm ở con đực và 9.4 mm ở con cái), không dài hơn đường kính chiều ngang của đường kính mắt (đường kính mắt 6.0 – 6.5 mm ở con đực và 8.4 mm ở con cái). Gờ sóng mũi rõ, hơi thắt lại phía sau các lỗ mũi. Vùng trước mắt lõm và xiên. Mũi ở mặt bên, ở giữa mút mõm và mắt. (NS 2.7 – 2.8 mm, EN 2.8 – 3.0 mm ở con đực và NS 4.3 mm, EN 4.1 mm ở con cái); Khoảng cách gian mắt hẹp hơn khoảng cách gian mũi và mi mắt trên (IOD 3.7 – 3.8 mm, UEW 4.6 – 4.8 mm, IN 3.9 – 4.4 mm ở con đực và IOD 4.5 mm, UEW 5.8 mm, IN 5.2 mm ở con cái). Gai thân rõ. Màng nhĩ rõ, tròn, bằng 43% đường kính mắt ở con đực và 40% ở con cái. Có răng lá mía. Lưỡi hình trái tim, lõm chữ V sâu về phía trước. Túi kêu ở thềm góc miệng. Chân trước dài (HAL 21.3 – 23.7 mm ở con đực, 30.8 mm ở con cái). Công thức độ dài ngón chân trước: I < II < IV < III. Các ngón chân trước không có riềm da, không có màng bơi. Các đầu ngón chân trước nở rộng có rãnh mép quanh. Có 2 củ mu bàn chân hình bầu dục, nối với nhau. Không có đệm chân. Chân sau mảnh hơn, đùi ngắn cẳng chân (FL 24.3 – 25.3 mm, TbL 24.7 – 27.4 mm ở con đực và FL 35.5 mm, TbL 37.9 mm ở con cái). Công thức ngón I < II < V < III < IV. Đầu ngón nở rộng, chiều rộng đĩa ngón chân sau thứ IV bằng với đĩa ngón chân trước thứ III. Công thức màng bơi I0 – 0II0 – 0III0 – 1IV1 – 0V. Khớp cổ chân chạm mút mõm khi gập thân. Củ bàn chân trong rõ, thon dài, hình bầu dục. Cù ngoài tròn, nhỏ. Da lưng mịn. Nếp trên màng nhĩ chạy từ góc sau mắt đến nách. Nếp tuyến lưng bên xuất hiện. Hông mịn. Bụng mịn.
Trong tự nhiên: Mặt lưng màu xanh lá cây, có đốm nâu sẫm. Mặt bên thân màu nâu sẫm. Sọc môi màu trắng, từ mút mõm đến phía sau nách. Mặt lưng của chân màu nâu xám có sọc vằn thâm. Mặt bụng của hàm, họng, ngực và bụng màu trắng. Mặt bụng của chân màu kem.
Nòng nọc: Thân hình bầu dục rộng nhìn từ lưng, rộng nhất ở mức mang, mõm tròn tù. Nhìn từ mặt ngang, thân hóp phía lưng bên, đặc biệt là phần mõm. Mắt ở mặt bên, tương đối nhỏ. Con ngươi hướng sang mặt bên. Một đường rãnh mũi – tuyến lệ chạy theo mặt bên từ nốt sần mũi đến mép trên trước hốc mắt. Lỗ mũi ngay gần rãnh này. Lỗ thở ở bụng, chính giữa, ngang, nằm ở phần rìa bụng, tương đối rộng và dạng rãnh. Nốt sần bụng ở giữa, xiên. Lỗ huyệt ở méo bụng của vây bụng. Đuôi tương đối dài, hình mũi mác, có chót tròn nhọn hơi rộng. Cơ thịt của đuôi phát triển yếu. Các vảy vây đuôi cao, đạt đến chiều cao cao nhất ở đoạn giữa một phần ba chiều dài của nó. Vây lưng mọc phía trước đến mối nối đuôi – thân, trên mép lưng, gần bằng hoặc thấp hơn vây bụng.
Sinh học, sinh thái:
Loài này thường sống trong các kiểu rừng khộp Họ Dầu Dipterocapaceae và mới ghi nhận ở sống trên đảo ven biển. Thức ăn là các loài côn trùng sống trong khu vực phân bố (Mối và Kiến). Chỉ xuất hiện khoảng 1 tuần vào những cơn mưa đầu mùa để đẻ trứng và giao phối. Sau đó chúng chui xuống đất và biến mất, khoảng thời gian kéo dài này chúng sống dưới đất đợi mùa mưa năm sau chui lên kiếm ăn. Chưa có bất cứ nghiên cứu sâu nào về đời sống của loài này diễn ra trong suốt thời gian sống trong lòng đất. Vòng đời biến thái hoàn toàn của chúng cũng trải qua các giai đạn giống như các loài lưỡng cư khác là dưới nước và trên cạn.
Phân bố:
Trong nước: Hầu khắp các khu rừng Khộp ở Tây nguyên Kontum, Darklak, Gia Lai và mới ghi nhận sống ở đảo Phú Quí thuộc tỉnh Bình Thuận.
Nước ngoài: Cambodia, Thái Lan, Lào.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ, có thể nuôi để tìm hiểu tập tính sống ở dưới đất của chúng nhằm phục vụ nghiên cứu khoa học về sinh thái và tập tính cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng còn nhiều trong tự nhiên. Nhưng gần đây chúng đã và đang trở thành đặc sản của một số vùng miền. Loài này cũng cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Nguyễn Thiên Tạo – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Tắc kè núi bà đen
Tên tiếng Anh:Golden gecko
Tên Latin:Gekko badenii
Song bế tiếp
Tên tiếng Anh:No english name
Tên Latin:Middletonia tiepiana
Thằn lằn rắn ludovic
Tên tiếng Anh:Ludovic’s glass lizard
Tên Latin:Dopasia ludovici
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae