TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Ễnh ương nâu

Tên tiếng Anh: Burmese squat frog
Tên Latin: Calluella guttulata
Đồng danh: Glyphoglossus guttulatus (Blyth, 1856)
Đồng danh: Megalophrys guttulata Blyth, 1856
Đồng danh: Glyphoglossus guttulatus (Blyth, 1856)
Đồng danh: Megalophrys guttulata Blyth, 1856
Tên khác: Ẽnh ương miến điện
  • Độ cao so mặt nước biển 600 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

ỄNH ƯƠNG NÂU

Calluella guttulata Blyth, 1856
Glyphoglossus guttulatus (Blyth, 1856)
Megalophrys guttulata Blyth, 1856
Họ: Nhái bầu Microhylidae
Bộ: Không đuôi Anura

Đặc điểm nhận dạng: 
Loài lưỡng cư có kích thược nhỏ so với các loài thuộc giống Calluella ở Việt Nam. Chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 36,2 – 42,7 mm ở con đực và 38,5, 45,5 mm ở con cái. đầu rộng hơn dài (HL/HW 0,74 – 0,78); màng nhĩ ẩn, gờ da trên màng nhĩ rõ. Chi sau: ngắn (TbL/SVL 0,39 – 0,44; FeL/SVL 0,40 – 0,43), màng bơi giữa các ngón chân có khoảng ¼; mút các ngón nhọn. Trong tự nhiên: mặt lƣng màu đỏ nâu với các vân và đốm màu xám đen; có một đốm sẫm màu, hình tam giác nối giữa hai ổ mắt, phía sau có các sọc sẫm màu; bụng màu kem hoặc vàng nhạt.
Sinh học, sinh thái:
Kiếm ăn ban đêm, xuất hiện sau cơn mưa từ thàng 4 đến tháng 8 hằng năm ở các khu vực rừng thường xanh còn tốt, chúng thường tập trung số đông và con đực dùng túi kêu để phát ra những âm thanh lớn để dẫn dụ con cái. Thức ăn là các loài ấu trùng sống trong khu vực sinh sống. Đẻ trứng vào tháng 4 đến tháng 6 hàng năm ở Đồng Nai (Phùng Mỹ Trung). Trứng được đẻ xuống khu vực có vũng nước đọng trong nền rừng tiếp tục vòng đời biến thái – Ăn thực vật, Di chuyển bằng đuôi, Thở bằng mang và sống bấy đàn trước khi mọc chân, tiêu giảm phần đuôi và lên cây để sống.
Phân bố:
Trong nước: Hầu khắp các tỉnh miền Đông nam bộ – Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Lâm Đồng và Côn Đảo, Phú Quốc.
Nước ngoài: Ấn Độ, Myanmar, Lào, Thái Lan, Cambodia, Indoesia, Malaysia.
Giá trị:
Là loài khá phổ biến và số lượng còn nhiều do không bị săn bắt làm thức ăn. Có giá trị nghiên cứu khoa học về sinh thái và tập tính của loài.

Mô tả loài: Hoàng Ngọc Thảo, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WeAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae