Ếch vạch
| Tên tiếng Anh: | Tonkin asian frog |
|---|---|
| Tên Latin: | Chaparana delacouri |
| Đồng danh: | Rana microlineata Bourret, 1937 |
| Đồng danh: | Rana delacouri Angel, 1928 |
| Đồng danh: | Quasipaa delacouri (Angel, 1928) |
| Đồng danh: | Annandia delacouri Dubois, 2005 |
| Tên khác: | Ếch đông dương |
- Độ cao so mặt nước biển 1000 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Nghệ An Thanh Hóa Hầu khắp các tỉnh ở Bắc Bộ
- Môi trường sống Dưới nước Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng thường xanh núi cao Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa Ao, hồ, đầm lầy, sông, suối, khu vực ngập nước nơi phân bố Sống chui rúc dưới các lớp thảm mục thực vật, hang hốc
ẾCH VẠCH
Chaparana delacouri (Angel, 1928)
Rana microlineata Bourret, 1937
Rana delacouri Angel, 1928
Quasipaa delacouri (Angel, 1928)
Annandia delacouri Dubois, 2005
Họ: Ếch nhái Ranidae
Bộ: Không đuôi Anura
Đặc điểm nhận dạng:
Ếch vạch là một loài ếch có kích thước lớn nhất miền Bắc nước ta, dài thân 90 – 160mm, có con nặng tới 300g. Cơ thể to mập, mắt lồi rõ, phía sau mí mắt trên có một số gai nhỏ hình chóp. Một nếp da rất rõ chạy từ mắt đến vai. Trên lưng có nhiều nếp da ngắn gián đoạn, trên đùi có những nếp da dọc, trên cẳng chân có nhiều nếp da xiên. Mút ngón chân có mấu tròn rõ. Lưng mầu nâu thẫm với những vết đen tương ứng với những nếp gấp da trên lưng.
Sinh học, sinh thái:
Sống trong những hang hốc đá, gốc cây ẩm ướt ven suối trong rừng sâu nơi có ít người lui tới. Chúng sống tập trung ở đầu nguồn, nơi có nhiều đá to chồng lên nhau, lòng suối ít nước hay bên những thác nước chảy mạnh. Vào những tháng lạnh (tháng 12 – 2) ếch rất ít hoạt động, trú trong những hang hốc tự nhiên ở ven suối. Sang tháng 3 thời tiết trở nên ấm áp ếch bắt đầu ra hoạt động, mạnh nhất từ tháng 4 – 10. Chúng kiếm ăn từ lúc xẩm tối cho tới nửa đêm, đôi khi tới gần sáng ở ngay suối. Thức ăn thường là ấu trùng chuồn chuồn, sâu non, gián rừng, kiến đen, cuốn chiếu, ong, ốc… Đẻ trứng vào đầu mùa xuân ở ngay nơi nước suối chảy chậm hay vũng suối tương đối lặng. ếch đẻ từ 40 – 50 trứng mầu vàng nhạt đường kính tới 6,6 – 7,2mm. Cá thể non thường ngâm mình trong nước còn cá thể trưởng thành thích ngồi ở những nơi ẩm ướt ít người qua lại.
Phân bố:
Trong nước: Lào Cai (Sa Pa, Văn Bàn), Hà Giang (Yên Minh, Vị Xuyên), Bắc Kạn (Ba Bể, Chợ Đồn), Vĩnh Phúc (Tam Đảo, Mỹ Lương), Hòa Bình (Thượng Tiên, Mai Châu), Sơn La (Tà Xùa, Phù Yên), Thanh Hóa (Bến En) và Nghệ An (Pu Huống).
Nước ngoài: Chỉ có ở Việt Nam
Giá trị:
Trong nước: Loài đặc hữu của Việt Nam, một trong những loài ếch rừng lớn nhất miền Bắc nước ta, có giá trị khoa học, thẩm mỹ.
Nước ngoài: Không có dữ liệu.
Tình trạng:
Diện tích phân bố <5.000km2, chỉ tồn tại ở 4 điểm, bị săn bắt làm thực phẩm nên số lượng suy giảm nghiêm trọng, rất hiếm gặp.
Phân hạng: EN B1ab(iii).
Biện pháp bảo vệ:
Đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam bậc – T (1992, 2000). Biện pháp duy nhất để bảo vệ loài là tuyên truyền giáo dục và kiểm soát chặt chẽ việc săn bắt và bảo vệ rừng, nhất là rừng đầu nguồn.
Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 265.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Ếch bám đá cường
Tên tiếng Anh:Cuong’s torrent frog
Tên Latin:Amolops cuongi
Nhông cát reeves
Tên tiếng Anh:Reeves's butterfly lizard
Tên Latin:Leiolepis reevesii
Chàng ba na
Tên tiếng Anh:Bana's cascade frog
Tên Latin:Rana banaorum
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae