Ếch suối trần kiên
| Tên tiếng Anh: | Trankien frog |
|---|---|
| Tên Latin: | Odorrana trankieni |
| Đồng danh: | Odorrana trankieni (Orlov, Le & Ho, 2003) |
| Đồng danh: | Odorrana trankieni (Orlov, Le & Ho, 2003) |
| Đồng danh: | Odorrana trankieni (Orlov, Le & Ho, 2003) |
| Đồng danh: | Odorrana trankieni (Orlov, Le & Ho, 2003) |
| Tên khác: | Ếch suối yên tử |
- Độ cao so mặt nước biển 1000 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Bắc Giang Hòa Bình Sơn La Khu bảo tồn thiên nhiên Mường La, Sơn La Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, Bắc Giang Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia-Pà Cò, Hòa Bình
- Môi trường sống Dưới nước Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng núi đá vôi Rừng thường xanh núi cao Ao, hồ, đầm lầy, sông, suối, khu vực ngập nước nơi phân bố Sống chui rúc dưới các lớp thảm mục thực vật, hang hốc
- Tình trạng bảo tồn Sắp nguy cấp VU: Vulnerable Sách đỏ Việt Nam năm 2023
- Giá trị sử dụng Có giá trị bảo tồn Chuỗi mắt xích của đa dạng sinh học Cân bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn tự nhiên
- Sinh thái Loài đặc hữu Việt Nam Ăn các loài ấu trùng, côn trùng đất trong khu vực sống Lưỡng cư kiếm ăn ban đêm
ẾCH SUỐI TRẦN KIÊN
Odorrana trankieni (Orlov, Le & Ho, 2003)
Họ: Ếch nhái Ranidae
Bộ: Không đuôi Anura
Đặc điểm nhận dạng:
Kích thước lớn, con đực nhỏ hơn con cái (chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 75.2 – 84.1 mm ở con đực và SVL 86.2 – 95.8 mm ở con cái. Đầu dài hơn rộng. Mõm nhọn ở góc nhìn từ trên xuống, nhô khỏi hàm dưới. Lỗ mũi ở mặt bên, gần mắt hơn mút mõm (khoảng cách mũi mõm 5.7-6.9 mm ở con đực và 6.6-7.4 mm ở con cái. Khoảng cách mắt mõm 4.8-5.6 mm ở con đực và 6.2-6.7 mm ở con cái). Gờ sóng mũi rõ. Con ngươi hình bầu dục, nằm ngang. Vùng má lõm và xiên. Dài mõm lớn hơn đường kính mắt. Gian mũi rộng hơn khoảng cách gian mắt và mi mắt trên. Khoảng cách gian mũi 7.9 – 9.5 mm ở con đực và 9.3 – 10.4 mm ở con cái, Khoảng cách gian mắt 6.2 – 7.0 mm ở con đực và 7.4 – 8.9 mm ở con cái. Chiều rộng mi mắt trên 5.5 – 6.6 mm ở con đực và 6.3 – 7.5 mm ở con cái. Màng nhĩ rõ, tròn, nhỏ hơn đường kính mắt. Có răng lá mía, xếp thành hai dãy xiên. Lưỡi hình trái tim, lõm sâu chữ V về phía sau. Con đực có túi kêu. Con cái có trứng màu vàng kem không có lỗ đen. Chân trước mập (dài đùi 12.3 -14.5 mm ở con đực và 13.7-17.4 mm ở con cái), ngắn hơn chiều dài bàn chân trước (dài ống chân 33.7-39.3 mm ở con đực và 38.7 – 42.2 mm ở con cái). Đầu ngón chân trước nở rộng có rãnh viền tròn. Chiều rộng của đĩa ngón III nhỏ hơn hai lần chiều rộng của đốt ngón. Quan hệ chiều dài ngón II < IV < I < III. Củ khớp phụ tròn, công thức 1, 1, 2, 2 (1, 2, 3, 2). Củ bàn tròn hình bầu dục, thon dài. Củ bàn ngoài nhỏ. Mu bàn chân có ở ngón thứ I. Chân sau mập, dài, đùi ngắn hơn cẳng chân. Dài đùi 29.2 – 42.0 mm ở con đực và 38.3 – 47.8 mm ở con cái. Dài cẳng chân 42.0 – 49.5 mm ở con đực và 49.7 – 57.8 mm ở con cái. Cẳng chân dài gấp bốn đến năm lần rộng.Đầu ngón nở rộng thành đĩa có rãnh viền tròn. Chiều rộng đĩa ngón IV nhỏ hơn hai lần chiều rộng của đốt ngón, nhỏ hơn chiều rộng đĩa ngón III. Mối quan hệ chiều dài ngón I <II < III < V < IV. Màng bơi phát triển đến phía sau của đốt cuối cùng. Côbg thức củ khớp 1, 1, 2, 3, 2. Củ bàn trong thon dài. Củ bàn ngoài không có. Khớp chày cổ chân chạm mắt Da bề mặt lưng của đầu và thân mịn. Có gai nhỏ trên hông, mép trên của mi mắt, mép trước và sau của màng nhĩ. Nếp trên màng nhĩ xuất hiện. Nếp lưng bên phát triển. Họng, ngực, bụng và mặt dưới của đùi mịn. Màu sắc trong tự nhiên: Con ngươi màu đen, được bao quanh bởi mạng lưới màu vàng đỏ. Lưng màu nâu ô lưu hoặc xanh lá cây sẫm có đốm nâu đỏ. Hông sườn màu nâu có hoặc không có đốm thâm. Mặt lưng của chân trước và chân sau màu nâu có vằn ngang màu nâu sẫm. Môi trên màu nâu hoặc trắng. Họng, ngực màu kem có hoa văn kiểu đá hoa cương màu nâu sẫm. Bụng gần như trắng hoặc kem có hoa văn kiểu đá hoa cương màu nâu.sẫm.
Sinh học, sinh thái:
sống trong rừng thường xanh trên núi đất gồm cây gỗ vừa và nhỏ xen cây bụi hoặc rừng tre nứa. Các cá thể gặp bám trên cành cây cách mặt đất 0,5 – 1,0 m hoặc trên các tảng đá, dọc hai bên suối. Rừng ẩm nhiệt đới thường xanh trên núi đất thấp ở độ cao 850 m. Ghi nhận các cá thể cái có trứng màu vàng, không phân cực vào tháng 10 và 11. Thức ăn là những loài côn trùng sống trong các khu vực phân bố.
Phân bố:
Trong nước: Sơn La (Phù Yên), Hòa Bình (Thượng Tiến), Bắc Giang (Tây Yên Tử).
Nước ngoài: Chưa có dẫn liệu.
Giá trị:
Loài đặc hữu Việt Nam, có giá trị khoa học và thẩm mỹ, là một trong những loài ếch lạ, đẹp, có thể nuôi sinh sản để làm công cụ, giáo cụ học tập cho học sinh, sinh viên tìm hiểu về loài ếch suối ở Việt Nam.
Tình trạng:
Loài này hiện ghi nhận phân bố ở các tỉnh Sơn La, Hòa Bình và Bắc Giang. Diện tích vùng phân bố (EOO) ước tính khoảng 8.000 km2; số địa điểm ghi nhận phân bố là 3; sinh cảnh sống của loài đã và đang bị thu hẹp, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác than, khai thác lâm sản và xâm lấn đất rừng làm đất canh tác nông nghiệp và du lịch.
Phân hạng: VU B1ab(iii).
Biện pháp bảo vệ:
Một phần vùng phân bố của loài nằm trong Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử (Bắc Giang) và Khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến (Hòa Bình) nên được bảo vệ. Đề xuất bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên. Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái, đánh giá hiện trạng quần thể để đưa ra các khuyến nghị đối với công tác bảo tồn.
Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam năm 2023 – phần động vật – trang 268.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Rắn lác
Tên tiếng Anh:Crab-eating water snake
Tên Latin:Fordonia leucobalia
Thằn lằn ngón chứng
Tên tiếng Anh:Chung’s bent-toed gecko
Tên Latin:Cyrtodactylus chungi
Kỳ đà vân
Tên tiếng Anh:Clouded monitor
Tên Latin:Varanus nebulosus
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae