TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phạm Thế Cường

Ếch nhẽo limborgi

Tên tiếng Anh: Limborg fanged frog
Tên Latin: Limnonectes limborgi
Đồng danh: Rana limborgi Sclater, 1892
Đồng danh: Platymantis liui Yang, 1983
Đồng danh: Micrixalus liui Zhao In Brown, 1985
Đồng danh: Taylorana limborgi Dubois, 1992
Tên khác: Ếch nhẽo bụi
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

ẾNH NHẼO LIMBORG

Limnonectes limborgi (Sclater, 1892)
Rana limborgi Sclater, 1892
Platymantis liui Yang, 1983
Micrixalus liui Zhao In Brown, 1985
Taylorana limborgi Dubois, 1992
Họ: Ếch nhái Ranidae
Bộ: Không đuôi Anura

Đặc điểm nhận dạng: 
Kích thước cơ thể nhỏ (SVL 26,2 – 32,3 mm), mõm ngắn, tròn; màng nhĩ tròn, rõ; có răng lá mía, lưỡi xẻ thùy ở phía sau. Chi trước không có màng bơi giữa các ngón tay, mút ngón tay tròn, không mở rộng thành đĩa bám, con đực không có chai sinh dục ở ngón I. Chi sau mảnh, mút ngón chân tròn, có đĩa bám nhỏ, chi sau có màng bơi ở gốc ngón; khi gập dọc thân khớp cổ – chày đạt giữa mắt và mút mõm. Da: Mặt lưng, trên đầu và mặt trên các chi nhẵn với các nốt sần nhỏ, nếp gấp trên màng nhĩ rõ, nếp gấp lưng sườn xuất hiện ở 1/2 phía trước cơ thể, mặt bụng nhẵn.
Màu sắc mẫu sống: Lưng màu nâu xám cùng với các đốm màu nâu sẫm, có hoa văn hình “ᴧ” màu nâu sẫm ở trên vai, mặt trên các chi màu nâu xám với các vạch màu nâu sẫm vắt ngang, mặt bụng và mặt dưới các chi màu kem, họng màu kem với các hoa văn màu xám.
Sinh học, sinh thái:
Mẫu vật được tìm thấy trên mặt đất dọc trên đường mòn trong rừng. Sinh cảnh xung quanh là rừng thứ sinh cây gỗ nhỏ xen cây bụi. Ếch đực tạo ra các hốc ở khu đất mềm ven suối, cách hơn 10 m từ suối hay các vũng nước gần đó, vừa đủ cơ thể trú ẩn, hốc có đường kính khoảng 3 – 4 cm, sâu 2 – 3 cm. Ban đêm kêu để thu hút con cái. Sau khi giao phối con cái đẻ trứng cùng dịch nhầy vào hốc đất và phủ lại bởi lá mục. Các hốc thường cách nhau hơn 1 m.
Phân bố:
Trong nước: Loài này ghi nhận phân bố từ tỉnh Lào Cai, Sơn La và Tuyên Quang ở phía Bắc vào đến tỉnh Đồng Nai và Kiên Giang ở phía Nam.
Nước ngoài: Ghi nhận ở Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan và Myanmar.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây, người dân sống gần khu vực phân bố đã, đang săn bắt làm thực phẩm cho, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Phạm Thế Cường, Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae