TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Nguyễn Quảng Trường

Ếch giun nguyễn

Tên tiếng Anh: Nguyen's caecilian
Tên Latin: Ichthyophis nguyenorum
Đồng danh: Ichthyophis nguyenorum Nishikawa et al., 2012
Đồng danh: Ichthyophis nguyenorum Nishikawa et al., 2012
Đồng danh: Ichthyophis nguyenorum Nishikawa et al., 2012
Đồng danh: Ichthyophis nguyenorum Nishikawa et al., 2012
Tên khác: Ếch giun kontum
  • Độ cao so mặt nước biển 1200 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

ẾCH GIUN NGUYỄN

Ichthyophis nguyenorum Nishikawa, Matsui & Orlov, 2012
Họ: Ếch giun Coeciliidae
Bộ: Ếch không chân Apoda

Đặc điểm nhận dạng:
Loài lưỡng cư không chân mới được phát hiện năm 2012 có chiều dài toàn bộ cơ thể khoảng 265 – 307 mm. Cơ thể hình trụ, hơi dẹp ở mặt bụng; dài đuôi 2,5 – 3,1 mm, rộng đuôi 3,4 – 4,3mm, mút đuôi tròn, không có núm che; số đốt dọc thân khoảng 312 – 318 trong đó có 4 đốt ở phần đuôi, số răng trước hàm và răng hàm trên khoảng 27 – 37, số răng lá mía – vòm miệng khoảng 23 – 28, số răng chính thức 24 – 28, số gờ răng khoảng 21 – 25. Mặt lưng có màu tím đen, dưới bụng nhạt hơn màu hoa cà, hai bên sườn có sọc màu vàng liên tục, không đứt quãng, chạy từ khoảng giữa hàm trên (mấu xúc – tu) đến gần mút đuôi. Mắt có viền mỏng màu trắng đục.
Ếch giun nguyễn – Ichthyophis nguyenorum khác các loài ếch giun khác:
So với Ichthyophis bannanicus thì loài mới có tổng số đốt ít hơn (312 – 318) và sọc màu vàng dọc thân liên tục (Ichthyophis bannanicus có số đốt nhiều hơn 340 và sọc vàng dọc bị đứt đoạn ở phần sau cơ thể).
So với hai loài Ichthyophis kohtaoensis và Ichthyophis supachaii thì Ichthyophis nguyenorum có phần thân chắc mập hơn với tỉ lệ tổng chiều dài cơ thể/chiều rộng thân <25, sọc màu vàng rộng hơn >3.4 mm còn ở hai loài Ichthyophis kohtaoensis và Ichthyophis supachaii có tỉ lệ tổng chiều dài cơ thể/chiều rộng thân >25 và sọc màu vàng hẹp hơn (thường < 2.3 mm).
Sinh học, sinh thái:
Sống ở các vực nước (ao, vũng…) có nhiều bùn và lá mục, hay các khu vực đất nông nghiệp. Thức ăn gồm côn trùng và ấu trùng của chúng, giun đất, nhện, sên và những loài không xương sống nhỏ khác. Vòng đời của loài Lưỡng cư không chân biến thái hoàn toàn này cũng trải qua 3 giai đoạn như các loài lưỡng cư khác.. Loài mới được vinh danh theo tên họ của hai nhà nghiên cứu bò sát lưỡng cư Việt Nam Nguyễn Quảng Trường và Nguyễn Thiên Tạo – Viện sinh thái tài nguyên sinh vật.
Phân bố:
Trong nước: Loài mới phát hiện ở Tây nguyên và vùng phân bố ở cao nguyên Đắk Lắk, Gia Lai, Kontum, Lâm Đồng thuộc miền Trung Việt Nam.
Nước ngoài: Chưa có dẫn liệu.
Tình trạng:
Loài này hiện ghi nhận ở các tỉnh Kontum, Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng. Diện tích vùng phân bố ước tính 16.000 km2; số điểm ghi nhận phân bố là 4; sinh cảnh sống của loài đã và đang bị thu hẹp, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, chuyển đổi đất rừng sang trồng cây công nghiệp và làm đường.
Phân hạngVU B1ab(iii).
Biện pháp bảo vệ:
Một phần vùng phân bố của loài nằm trong VQG Chư Mom Ray (Kontum), Kon Ka Kinh (Gia Lai), Yok Đôn (Đắk Lắk) và Bidoup-Núi Bà (Lâm Đồng) nên được bảo vệ. Tuy nhiên vẫn cần phải có biện pháp nghiêm cấm khai thác rừng, sinh cảnh sống của loài này ngoài tự nhiên. Cần tổ chức nhân nuôi, nhằm nhân giống để thả vào môi trường tự nhiên và giữ lại nguồn gen.

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae