TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Ếch gai sần

Tên tiếng Anh: Chapa spiny frog
Tên Latin: Quasipaa verrucospinosa
Đồng danh: Rana spinosa verrucospinosa Bourret, 1937
Đồng danh: Nanorana verrucospinosa (Bourret, 1937)
Đồng danh: Paa verrucospinosa (Bourret, 1937)
Đồng danh: Rana verrucospinosa Bourret, 1937
Tên khác: Ếch gai sần sapa
  • Độ cao so mặt nước biển 2300 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

ẾCH GAI SẦN

Quasipaa verrucospinosa Bourret, 1937
Rana spinosa verrucospinosa Bourret, 1937
Nanorana verrucospinosa (Bourret, 1937)
Paa verrucospinosa (Bourret, 1937)
Rana verrucospinosa Bourret, 1937
Họ: Ếch nhái Ranidae
Bộ: Không đuôi Anura

Đặc điểm nhận dạng:
Chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt có thể lên đến 106 mm ở con đực và 95 mm ở con cái. Thể tạng mập. Đầu thon dài, rộng hơn dài. Dài đầu 38 mm ở con đực, 32.8 mm ở con cái. Rộng đầu 42.9 mm ở con đực,  37 mm ở con cái. Mõm tròn phía trước ở góc nhìn lưng, nhô ra khỏi hàm dưới. Lỗ mũi ở mặt bên, gần mắt hơn mút mõm. Gờ sóng mũi mờ. Vùng má xiên và hơi lõm. Mõm dài hơn đường kính mắt. Gian mũi rộng hơn gian mắt và rộng mi mắt trên. Màng nhĩ hơi rõ, đường kính 5.4 mm ở con đực, 5 mm ở con cái, nhỏ hơn khoảng cách màng nhĩ mắt (khoảng cách màng nhĩ mắt 6.3 mm ở con đực, 5.6 mm ở con cái). Răng lá mía xếp thành hai hàng. Lưỡi hình trái tim, lõm phía sau. Không có túi kêu ngoài. Chân trước. Chân ngắn. Dài cẳng chân 20.1 mm ở con đực, 15.5 mm ở con cái. Dài cẳng chân 48.5 mm ở con đực, 38.4 mm ở con cái. Mối quan hệ chiều dài ngón II<I<IV<III. Không có màng bơi. Các mặt của ngón I, II và III có riềm da hẹp. Đầu ngón lồi, không nở rộng. Củ khớp lồi, tròn, công thức 1, 1, 2, 2. Củ bàn trong tròn. Củ bàn ngoài thon dài. Ngón I có đệm ở con đực. Chân sau: Cẳng chân dài hơn đùi (Dài đùi 52 mm ở con đực, 44.8 mm ở con cái. Dài cẳng 53.1 mm ở con đực, 45.7 mm ở con cái). Rộng đùi 18.9 mm ở con đực, 15 mm ở con cái. Đầu ngón lồi, tròn. Công thức chiều dài ngón: I<II<V<III<IV. Các ngón đều có màng bơi đến đầu xa của khớp cuối. Riềm da xuất hiện ở mặt ngoài của ngón I và V. Củ khớp lồi, hình bầu dục, công thức 1, 1, 2, 3, 2. Củ bàn trong thon dài. Củ bàn ngoài không có. Khớp cổ chân chạm mõm. Da mặt lưng của đầu có nốt sần tròn và bầu dục. Lưng có các riềm da dày trộn lẫn với những nốt sần nhỏ tròn. Hông có nốt sần tròn và hình bầu dục. Nếp trên màng nhĩ rõ, chạy từ mắt đến góc hàm. Không có nếp lưng bên. Mặt lưng của chân trước và chân sau có nốt sần nhỏ. Bụng và mặt bụng của đùi mịn. Thân của con đực có gai. Gai dày đặc ở dưới hông, ngực, 2/3 phần trước của bụng, ngón I, II, III của chân trước. Gai xuất hiện trên lưng, môi trên, mặt lưng của chân trước và sau, môi dưới và họng. Không có gai trên ngón IV chân trước và mặt bụng của chân trước.
Màu sắc trong tự nhiên: Con ngươi màu đồng nhạt. Lưng và phần trên của hông màu xám vàng hoặc xám nâu nhạt. Phần dưới của hông màu vàng trắng có nốt sần trắng, gai đen ở đỉnh. Mặt lưng của chân màu vàng có vằn nâu. Mặt bụng của chân màu trắng vàng. Họng màu trắng có vệt nâu. Ngực và bụng màu trắng vàng. Màng bơi màu nâu nhạt.
Sinh học, sinh thái:
Sống ở vùng rừng núi, thường gặp chúng ở ven bờ suôí có nước chảy mạnh. Ban ngày chúng ẩn sâu trong khe đá hay dưới các gốc cây, ban đêm mới đi kiếm ăn. Thức ăn gồm: ấu trùng chuồn chuồn, sâu non, gián rừng, kiến đen, châu chấu, nhiều chân, ốc… Vào mùa sinh sản ở phần ngực của ếch gai đực phủ kín những gai đen. Ếch đẻ trứng vào tháng 5 – 9 hàng năm, trứng dính với nhau thành từng đám bám vào các cây cỏ thuỷ sinh hay dưới các tảng đá chìm trong các thác nước. Đường kính trứng lớn nhất tới 5mm.
Phân bố:
Trong nước: Lào Cai (Sapa), Lai Châu (Sìn Hồ), Điện Biên (Mường Nhé), Hà Giang (Vị Xuyên), Tuyên Quang (Na Hang), Cao Bằng (Nguyên Bình), Bắc Kạn (Ba Bể, Chợ Đồn), Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Phú Thọ (Xuân Sơn), Sơn La (Bắc Yên, Phù yên, Thuận Châu, Sốp Cộp, Xuân Nha), Hòa Bình (Mai Châu, Kim Bôi), Thanh Hóa (Như Xuân), Nghệ An (Con Cuông), Hà Tĩnh (Hương Sơn), Quảng Trị (Đắk Rông, Hướng Hóa), Thừa Thiên Huế (A Lưới, Phú Lộc), Quảng Nam (Nam Giang, Tây Giang, Phước Sơn, Trà My), Kontum (Kon Plông), Gia Lai (K’ Bang, Đăk Đoa), Lâm Đồng (Lạc Dương, Đạ Tẻh).
Nước ngoài: Trung Quốc, Thái Lan, Lào.
Giá trị:
Có kích thước lớn, có giá trị khoa học, thẩm mỹ và có thể nghiên cứu để nhân, nuôi bảo vệ nguồn gen.
Tình trạng:
Loài này phân bố ở các tỉnh Miền Bắc vào đến Tây Nguyên. Loài này thường xuyên bị săn bắt để làm thực phẩm và buôn bán; sinh cảnh sống của loài đã và đang bị thu hẹp, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng làm đất canh tác nông nghiệp; loài này khá hiếm gặp trong tự nhiên; quần thể bị suy giảm ước tính khoảng hơn 30% trong vòng hơn 15 năm qua.
Phân hạng: VU A2acd.
Biện pháp bảo vệ:
Một phần vùng phân bố của loài nằm trong các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên nên được bảo vệ. Đề xuất bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên. Tiến hành các biện pháp phục hồi quần thể đồng thời tuyên truyền nhằm giảm thiểu tác động của con người đến sinh cảnh sống của loài, hạn chế săn bắt trái phép đặc biệt là vào mùa sinh sản.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 266.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae