Ếch đồng
| Tên tiếng Anh: | Chinese edible frog |
|---|---|
| Tên Latin: | Hoplobatrachus rugulosus |
| Đồng danh: | Ranna rogulosus Weigmann, 1834 |
| Đồng danh: | Hoplobatrachus chinensis (Osbeck, 1765) |
| Đồng danh: | Hydrostentor pantherinus Steindachner, 1867 |
| Đồng danh: | Rana burkilli Annandale, 1910 |
| Tên khác: | Ếch tàu |
- Độ cao so mặt nước biển 600 M //php } ?>
- Mã định danh003
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Tình trạng bảo tồn Loài phổ biến FS: Formal species
- Giá trị sử dụng Làm thực phẩm cho con người Chuỗi mắt xích của đa dạng sinh học
- Sinh thái Lưỡng cư (vòng đời trải qua 2 giai đoạn dưới nước và trên cạn) Lưỡng cư kiếm ăn ban đêm
ẾCH ĐỒNG
Hoplobatrachus rugulosus (Wiegmann, 1834)
Ranna rogulosus Weigmann, 1834
Hoplobatrachus chinensis (Osbeck, 1765)
Hydrostentor pantherinus Steindachner, 1867
Rana burkilli Annandale, 1910
Họ: Ếch nhái thực Dicroglossidae
Bộ: Không đuôi Anura
Đặc điểm nhận dạng:
Mẫu vật nghiên cứu: Cá thể trưởng thành TYT 2012.42. Đầu dài hơn rộng (HL 31,5 mm, HW 28,29 mm); mắt lớn và lồi, đường kính mắt bằng khoảng 2/3 lần chiều dài mõm, lớn hơn gần 2 lần so với khoảng cách gian ổ mắt (ED 8,38 mm, SL 12,87 mm, UEW 4,09 mm); mõm hơi tù, nhô về phía trước so với hàm dưới; gờ mõm không rõ, vùng má lõm và hơi xiên; lỗ mũi nằm gần mút mõm hơn mắt; màng nhĩ rất rõ, bằng khoảng 3/4 lần đường kính mắt (TD 6,57 mm); có răng lá mía, con đực có 2 túi kêu.
Mút các ngón tay và ngón chân tù; các ngón tay tự do; các ngón chân có màng bơi hoàn toàn; củ bàn trong dài, không có củ bàn ngoài; củ dưới khớp nhỏ; khi gập dọc thân khớp cổ – bàn chạm mút mõm.Trên lưng có nhiều nếp da gián đoạn; gờ da trên màng nhĩ; lưng, hai bên thân và mặt trên các chi có các nốt sần. Mặt dưới màu trắng đục hay phớt vàng xen những vệt sẫm không đều; chi sau có các vệt ngang, sẫm màu. Loài này rất giống với loài Ếch cua Fejervarya cancrivora chúng chỉ có thể phân biệt vào màng chân. Chân của loài ếch cua có màng bơi rộng và dài hơn tới tận đầu ngón chân.
Sinh học, sinh thái:
Sống chủ yếu ở các thuỷ vực, đồng ruộng, bờ các ao hồ, đầm lầy, các thung lũng, Đây là loài trú đông trong các hang vào mùa đông (miền Bắc nước ta) từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau. Vào mùa hè chúng bò ra chuẩn bị giao phối và đẻ trứng từ tháng 3 đến tháng 6. Mỗi năm đẻ 2 lứa. Thời kỳ hoạt động mạnh nhất của loài này là vào tháng 4 đến tháng 6, giảm dần vào tháng 7 đến tháng 11 chuẩn bị trú đông. Là loài kiếm ăn đêm, ban ngày ẩn nấp. Thức ăn chủ yếu của chúng là các loài côn trùng, giun đất, cua.
Phân bố:
Trong nước: Là loài có phân bố rộng khắp cả nước từ Bắc đến Nam.
Nước ngoài: Lào, Cambodia, Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia.
Giá trị:
Là loài khá phổ biến và số lượng còn nhiều do không bị săn bắt làm thức ăn. Có giá trị nghiên cứu khoa học về sinh thái và tập tính của loài.
Mô tả loài: Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Thiên Tạo, Nguyễn Quảng Trường. Hoàng Ngọc Thảo – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:003
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Dầu chòng
Tên tiếng Anh:No english name
Tên Latin:Delavaya toxocarpa
Trà sốp
Tên tiếng Anh:No english name
Tên Latin:Camellia fleuryi
Bọ chó bông to
Tên tiếng Anh:No english name
Tên Latin:Buddleja macrostachya
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae