TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung-Phạm Thế Cường

Ếch cây phê

Tên tiếng Anh: Fea's tree frog
Tên Latin: Zhangixalus feae
Đồng danh: Rhacophorus feae Boulenger, 1893
Đồng danh: Polypedates feae (Boulenger, 1893)
Đồng danh: Rhacophorus feae Boulenger, 1893
Đồng danh: Polypedates feae (Boulenger, 1893)
Tên khác: Ếch cây xanh ngọc
  • Độ cao so mặt nước biển 1500 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

ẾCH CÂY PHÊ

Zhangixalus feae Boulenger, 1893
Rhacophorus feae Boulenger, 1893
Polypedates feae (Boulenger, 1893)
Họ: Nhái cây Rhacophoridae
Bộ: Không đuôi Anura

Đặc điểm nhận dạng: 
Là một trong những loài ếch cây lớn thuộc giống Rhacophorus ở Việt Nam, thân dài đến 120 mm. Mặt trên lưng và trên các chi có mầu xanh lá cây, da nhẵn trừ mặt dưới bụng và đùi nổi hạt. Ngón tay, chân có đĩa rộng, có màng hoàn toàn. Hai bên đầu có một vệt nâu vàng chạy từ mõm viền trên mí mắt và màng nhĩ. Có khả năng thay đổi mầu sắc từ xanh lá cây sang xanh đen hay nâu tối phụ thuộc vào môi trường xung quanh.
Sinh học, sinh thái:
Thường sống ở những vùng rừng thường xanh kín tán hay rừng thứ sinh với nhiều cây bụi hay tre nứa quanh những vũng nước đọng cách không xa suối nước. Sâu về phía Nam, ở những vùng lầy lội hay gặp chúng trên những cây chuối hay bụi tre. Chúng đẻ trứng thành những ổ bọt làm trên đất hay trên cành cây cách đất 0,5m gần những con suối chảy xiết. Bị bắt con cái phát ra tiếng kêu rất to như tiếng gào của trẻ con. ở Việt Nam, loài này tìm thấy ở hai đỉnh núi cao: Fansipan (ở độ cao 1.200 – 1.800m) và Ngọc Linh (1.500 – 2.000m).
Phân bố:
Trong nước: Lai Châu (Sìn Hồ), Điện Biên (Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé), Lào Cai (Vườn quốc gia Hoàng Liên, Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Xát), Sơn La (Thuận Châu), Hòa Bình (Vườn quốc gia Hang Kia – Pà Cò, Khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến), Nghệ An (Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt), Kontum (Kon Plong, Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh), Đắk Lắk (Vườn quốc gia Chư Yang Sin).
Nước ngoài: Myanmar, Bắc Thái Lan, Bắc Lào, Trung Quốc (Vân Nam).
Giá trị:
Có giá trị khoa học và thẩm mỹ, là loài có thể nuôi ở các vườn thú để giáo dục, nghiên cứu môi trường sống
Tình trạng:
Ở Việt Nam, loài này hiện ghi nhận phân bố ở các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Sơn La, Hòa Bình, Nghệ An, Kon Tum và Đắk Lắk; sinh cảnh sống của loài đã và đang bị thu hẹp, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, xâm lấn rừng để canh tác nông nghiệp và phát triển du lịch; loài này là đối tượng bị săn bắt làm thực phẩm và buôn bán làm sinh vật cảnh, ước tính quần thể thể đã bị suy giảm khoảng hơn 30% trong 20 năm trở lại đây.
Phân hạng: VU B1ab(iii).
Biện pháp bảo vệ:
Vùng phân bố của loài nằm trong các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn nên được bảo vệ. Đề xuất bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên. Kiểm soát, hạn chế săn bắt phục vụ buôn bán làm sinh vật cảnh. Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái và đánh giá hiện trạng quần thể để đưa ra các khuyến nghị đối với công tác bảo tồn..

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 267.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae