TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Ếch cây màng bơi đỏ

Tên tiếng Anh: Red-webbed treefrog
Tên Latin: Rhacophorus rhodopus
Đồng danh: Rhacophorus bipunctatus Ahl, 1927
Đồng danh: Rhacophorus namdaphaensis Sarkar & Sanyal, 1985
Đồng danh: Rhacophorus bipunctatus Ahl, 1927
Đồng danh: Rhacophorus namdaphaensis Sarkar & Sanyal, 1985
Tên khác: Ếch cây đỏ yên tử
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

ẾCH CÂY MÀNG BƠI ĐỎ

Rhacophorus rhodopus Liu & Hu, 1960
Rhacophorus bipunctatus Ahl, 1927
Rhacophorus namdaphaensis Sarkar & Sanyal, 1985
Họ: Chẫu cây Rhacophoridae
Bộ: Không đuôi Anura

Đặc điểm nhận dạng: 
Con đực có chiều dài thân 40mm, con cái lớn hơn con đực và có kích thước khoảng 56mm. Màu sắc ban ngày khác với màu sắc ban đêm, ban ngày có màu nâu vàng hay nâu xám, các kẽ chân, tay, dùi và màng bơi có màu đỏ cam. Ban đêm có màu đỏ thẫm, bụng màu vàng rực. Trên thân có một số nốt màu đen và các đốm vàng lớn mà ở một số cá thể không có các đặc điểm này. Màu sắc khá tương đồng giữa cá thể đực và cá thể cái. kích thước ngón I < II < IV < III; màng ngón chân hoàn toàn. Củ bàn trong dài, không có củ bàn ngoài. Bờ ngoài cổ bàn tay có riềm da nhỏ. Chi sau trung bình, khớp chày – cổ đạt tới mũi, khớp cổ – bàn vượt mõm một chút. Sau cổ chân có mấu da nhọn khoảng 2mm. Có nếp da trên lỗ huyệt, 2 mấu gai nhỏ dưới lỗ huyệt.
Sinh học, sinh thái:
Loài này thường sống ở rừng nguyên sinh còn tốt ở độ cao 600 – 1.000m. Vào mùa sinh sản chúng thường tập trung với số lượng lớn quanh các hố nước và thường ở trên các nhánh cây, lá cây cao khoảng 1,5 – 3m. Thường gặp cá thể đực nhiều hơn cá thể cái. Thời gian sinh sản kéo dài từ tháng 3 đến tháng 12 nhưng tập trung chủ yếu từ tháng 4 đến tháng 6. Trứng được đẻ trong các tổ bòn bọt được ếch cái cuộn lá lại và có đường kính 6 – 8cm, sát mép nước, Giai đoạn đầu nòng nọc sẽ ăn các dưỡng chất do con me cung cấp trong tổ bòn bọt. Sau một thời gian chúng sẽ chui ra và rớt xuống khu vực có nước tiếp tục vòng đời biến thái – Ăn thực vật, Di chuyển bằng đuôi, Thở bằng mang và sống bấy đàn trước khi mọc chân, tiêu giảm phần đuôi và lên cây để sống.
Phân bố:
Trong nước: Phân bố ở các tỉnh Bắc Giang, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Gia Lai, Kontum. Lâm Đồng.
Nước ngoài: Ấn Độ, Myanmar, Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Malaysia.
Giá trị:
Là loài lưỡng cư sống ở trên cây có hoa văn rất đẹp, nên chúng thường bị buôn bán làm vật nuôi cảnh ở Việt Nam và quốc tế. Có giá trị nghiên cứu khoa học về sinh thái và tập tính của loài.
Tình trạng:
Do việc khai thác rừng làm mất sinh cảnh sống của chúng trong tự nhiên. Cần có những biện pháp khoanh vùng bảo vệ nơi loài này phân bố.
Biện pháp bảo vệ:
Vùng phân bố của loài nằm trong Khu Bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử và Vườn quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng, nên được bảo vệ. Tuy nhiên, vẫn rất cần thiết bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên. Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái và đánh giá hiện trạng quần thể để đưa ra các khuyến nghị đối với công tác bảo tồn.

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae