Ếch cây đốm xanh
| Tên tiếng Anh: | Chinese gliding frog |
|---|---|
| Tên Latin: | Zhangixalus dennysi |
| Đồng danh: | Rhacophorus dennysi Blanford, 1881 |
| Đồng danh: | Polypedates dennysi Blanford, 1881 |
| Đồng danh: | Rhacophorus exiguus Boettger, 1894 |
| Đồng danh: | Hyla albotaeniata Vogt, 1927 |
| Tên khác: | Ếch cây bay trung hoa |
- Độ cao so mặt nước biển 1000 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Lào Trung Quốc Myanmar Hầu khắp các tỉnh ở Bắc Bộ Vườn quốc gia Ba Bể, Việt Nam Vườn quốc gia Xuân Sơn, Việt Nam Vườn quốc gia Tam Đảo, Việt Nam Vườn quốc gia Cúc Phương, Việt Nam Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, Việt Nam
- Môi trường sống Dưới nước Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng thường xanh núi cao Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa Ao, hồ, đầm lầy, sông, suối, khu vực ngập nước nơi phân bố
- Tình trạng bảo tồn Loài phổ biến FS: Formal species
- Giá trị sử dụng Loài cần được nghiên cứu, bảo tồn Chuỗi mắt xích của đa dạng sinh học Cân bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn tự nhiên
- Sinh thái Lưỡng cư (vòng đời trải qua 2 giai đoạn dưới nước và trên cạn) Ăn các loài ấu trùng, côn trùng đất trong khu vực sống Lưỡng cư kiếm ăn ban đêm
ẾCH CÂY XANH ĐỐM
Zhangixalus dennysi (Blanford, 1881)
Rhacophorus dennysi Blanford, 1881
Polypedates dennysi Blanford, 1881
Rhacophorus exiguus Boettger, 1894
Hyla albotaeniata Vogt, 1927
Họ: Chẫu cây Rhacophoridae
Bộ: Không đuôi Anura
Đặc điểm nhận dạng:
Là một trong những loài ếch cây lớn nhất châu Á, con đực có chiều dài thân tới 128mm, con cái tới 134mm. Đầu rộng hơn dài (HW 24,9 mm, HL 22,5 mm); mút mõm hơi tròn, lỗ mũi gần mút mõm hơn so với mắt (SNL 4,8 mm, NEL 6,6 mm); khoảng cách gian mũi nhỏ hơn gian mắt và lớn hơn chiều rộng mí mắt trên (IND 6,6 mm, IOD 9,6 mm, UEW 5,8 mm); màng nhĩ rõ, trịn, nhỏ hơn đường kính mắt (TD 4,1 mm, EL 7 mm); gờ da trên màng nhĩ rõ, có răng lá mía; lưỡi chẻ đơi ở phía sau. Con đực có một cặp túi kêu ở góac miệng. Tương quan chiều dài các ngón tay: I<II<IV<III, mút ngón tay có đĩa bâm lớn với rãnh ngang đĩa bám ngón tay III (FD3 3,4 mm) nhỏ hơn đường <II<III<V<IV, đĩa bám ở đầu ngón chân, nhỏ bằng khoảng 2/3 đĩa bám ở ngón tay (TD4 2,7 mm); chân có màng bơi rất lớn; riềm da phía ngoài ngón chân V và bàn chân không phát triển; không có cựa da ở gót chân; củ bàn trong nhỏ, không có củ bàn ngồi, củ dưới khớp ngón rõ; khi gập vuông góc với thân, gót chân chồng lên nhau, khi gập dọc thân, khớp cổ – bàn vượt quá lỗ mũi. Da mặt trên đầu, lưng và chi nhẵn; không có gờ da lưng sườn; không có nếp da phía trên hậu môn; họng và ngực nhẫn.
Màu sắc mẫu sống: Phần trên đầu, lưng và chi màu xanh lá cây, đôi khi chuyễn màu xanh sẫm, thường có các đốm màu gỉ sắt hoặc màu trắng trên đầu, lưng và hai bên sườn; phần dưới màu kem hoặc tím nhạt; bụng màu kem; mép ngoài cánh tay, bàn tay và bàn chân màu kem hoặc tím nhạt; đĩa bám và màng bơi màu xám; con ngươi màu đen; mống mắt màu nâu nhạt. Loài này khác loài Rhacophorus helenae bởi sự xuất hiện của đệm đen, mặt dưới trắng ở nách và khớp cổ chân, riềm da. Khác các loài cùng Giống Rhacophorus sp. ở Đông Nam Á trừ các loài Rhacophorus dennysi, Rhacophorus duboisi, Rhacophorus feae, Rhacophorus kio, Rhacophorus maximus bởi không có cựa da ở gót chân; củ bàn trong nhỏ, không có củ bàn ngồi
Sinh học, sinh thái
Sống hoàn toàn trên cây trong các khu rừng thường xanh ở độ cao từ 300m đến 1.200m, trên các cây cao, trên mặt đất, tảng đá phủ rêu, trên có ven các suối đá nhất là quanh các thác nước. Đôi khi gặp cả ở những khu vực đất hoang hay đất canh tác nhưng sát rừng và gần các suối lớn. Thức ăn là các loài côn trùng sống trong khu vực loài này phân bố. Mùa sinh sản từ tháng 3 đến tháng 6 (trong điều kiện nuôi chúng đẻ cả vào mùa thu). Khoảng 200 – 300 trứng được đẻ thành những ổ bọt lớn đường kính 18 – 20cm bám vào thân cây, các tảng đá, trên lá khô dưới tán rừng gần suối. Nòng nọc phát triển trong nước, ếch con chỉ có một màu xanh nhạt, những đốm sáng xuất hiện khi chiều dài đạt khoảng 40mm, những đốm màu gỉ sắt chỉ có ở những con đã trưởng thành.
Phân bố:
Trong nước: Cao Bằng, Băc Kạn, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Hải Dương, Ninh Bình, Quảng Bình.
Nước ngoài: Trung Quốc, Myanmar, Lào.
Giá trị:
Là loài khá phổ biến và số lượng còn nhiều do không bị săn bắt làm thức ăn. Có giá trị nghiên cứu khoa học về sinh thái và tập tính của loài.
Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Tắc kè núi bà đen
Tên tiếng Anh:Golden gecko
Tên Latin:Gekko badenii
Bướm mũ quan tòa
Tên tiếng Anh:Club beak
Tên Latin:Libythea myrrha
Thằn lằn bóng yên tử
Tên tiếng Anh:Devorator's skink
Tên Latin:Scincella devorator
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae