TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Ếch bám đá trường

Tên tiếng Anh: Truong’s Spiny torrent frog
Tên Latin: Amolops truongi
Đồng danh: Amolops truongi Pham et al., 2023
Đồng danh: Amolops truongi Pham et al., 2023
Đồng danh: Amolops truongi Pham et al., 2023
Đồng danh: Amolops truongi Pham et al., 2023
Tên khác: Ếch bám đá sơn la
  • Độ cao so mặt nước biển 1300 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

ẾCH BÁM ĐÁ TRƯỜNG

Amolops truongi Pham et al., 2023
Họ: Ếch nhái Ranidae
Bộ: Không đuôi Anura

Đặc điểm nhận dạng: 
Con đực có chiều dài mút mõm đến lỗ huyệt 41.3 mm. Thân dài, đầu lớn, rộng và phẳng, dài hơn rộng. Dài đầu 14.6 mm. Rộng đầu 13 mm. Mõm nhọn ra trước ở góc nhìn lưng, nhô ra khỏi hàm dưới. Mũi nằm mặt bên, gần mút mõm hơn mắt. Mũi mõm 3 mm. Mắt mũi 3.6 mm. Khoé mắt rõ. Vùng má lõm. Dài mõm lớn hơn đường kính mắt. Dài mõm 6.6 mm. Đường kính mắt 5.9 mm. Đồng tử ngang, hình bầu dục. Gian mũi rộng hơn gian mắt và chiều rộng mi mắt. Gian mũi 4.5 mm. Gian mắt 3.5 mm. Rộng mi 4 mm. Màng nhĩ rõ, tròn. Răng lá mía xuất hiện trên riềm xiêm giữa khoang mũi hầu. Lưỡi hình tim, lõm sâu hình chữ V về phía sau. Túi kêu nằm ở góc thềm miệng. Da lưng và mặt bên của đầu và thân mịn, ngoại trừ xuất hiện những nốt sần nhỏ ở vùng thái dương, trên ống chân và lỗ huyệt. Nếp màng nhĩ mờ. Nếp lưng bên rõ, từ rìa mí mắt trên đến gần lỗ huyệt. Mặt các mặt bụng mịn, ngoại trừ nốt phẳng ở mặt đáy bụng của đùi.
Chân trước: Dài, cẳng chân mập. Công thức ngón I<II<IV<III. Không có màng bơi. Đầu ngón có đĩa. Ngón thứ hai và thứ tư có rãnh tròn mép. Đầu ngón đầu tiên nhỏ hơn, không có rãnh tròn mép. Độ rộng của đĩa ngón III nhỏ hơn đường kính màng nhĩ. Màng nhĩ 2.2 mm. Đĩa ngón 1.5 mm. Củ khớp phụ hình bầu dục, công thức 1, 1, 2, 2. Củ mu bàn chân mờ.
Chân sau: Rất dài, ống chân dài hơn đầu. Dài đùi 21.1 mm. Dài ống chân 24.8 mm. Công thức ngón I<II<III<V<IV. Đầu ngón có đĩa. Công thức màng bơi I0 – 1/2II0 – 1III0 – 1IV1 – 0V. Củ khớp phụ hình bầu dục. Công thức 1, 1, 2, 3, 2. Củ bàn chân trong thon dài. Củ bàn chân ngoài tiêu biến.
Màu khi sống: Lưng màu xám sáng, có đốm xanh lá cây nhỏ mờ. Đầu và thân có dọc nâu không đều dọc lưng bên. Mặt bên của đầu và màng nhĩ màu nâu. Hông màu xám sáng. Một đường sọc chạy từ mút mõm đến trước điểm nhọn vai ở mỗi bên. Đồng tử tròn, màu vàng ánh kim. Mặt lưng của chân trước và chân sau sáng màu xám sáng, có sọc nâu, đậm hơn ở chân sau. Ngực, họng và bụng màu trắng. Túi kêu màu vàng. Mặt bụng của chân trước và sau màu kem. Màng bơi màu nâu.
Phân biệt giới tính: Con đực có túi kêu rõ, còn con cái thì không có túi kêu. Chân trước của con đực có mu dưới ngón số I, còn con cái thì không. Con đực có cẳng chân trước chân mập và dày, trong khi của con cái thì mỏng và mảnh hơn.
Sinh học, sinh thái:
Loài này sống ở các con suối chảy ở độ cao 1.360m ở các khu rừng nguyên sinh và thứ sinh cây bụi. Thức ăn là các loài côn trùng, ếch nhỏ, nòng nọc của loài khác sống trong khu vực phân bố. Thường gặp vào đầu mùa mưa hàng năm chúng kết đôi, đẻ trứng ở các khu vực nước chảy chậm. Vòng đời biến thái hoàn toàn của chúng cũng trải qua các giai đạn giống như các loài lưỡng cư khác là dưới nước và trên cạn.
Phân bố:
Loài đặc hữu ở Việt Nam và được công bố tháng 3 năm 2023, mới chỉ gặp ở tỉnh Sơn La. Loài mới được vinh danh GS.TS Nguyễn Quảng Trường vì những đóng góp của ông trong các nghiên cứu Bò sát, Lưỡng cư ở Việt Nam.
Giá trị:
Là loài khá phổ biến và số lượng còn nhiều do không bị săn bắt làm thức ăn. Có giá trị nghiên cứu khoa học về sinh thái và tập tính của loài.

Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường – WebAdmin

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae