TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phạm Thế Cường - Peter Brakels

Ếch bám đá gai ngực

Tên tiếng Anh: Spiny torrent frog
Tên Latin: Amolops spinapectoralis
Đồng danh: Amolops spinapectoralis Inger et al., 1999
Đồng danh: Amolops spinapectoralis Inger et al., 1999
Đồng danh: Amolops spinapectoralis Inger et al., 1999
Đồng danh: Amolops spinapectoralis Inger et al., 1999
Tên khác: Ếch bám đá cao nguyên
  • Độ cao so mặt nước biển 1500 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

ẾCH BÁM ĐÁ GAI NGỰC

Amolops spinapectoralis Inger et al., 1999
Họ: Ếch nhái Ranidae
Bộ: Không đuôi Anura

Đặc điểm nhận dạng: 
Loài ếch bám đá có kích thước trung bình. Dài mút mõm đến lỗ huyệt 36.9 – 37.88 mm ở con đực và 41.64 – 45.15 mm ở con cái. Thể tạng chắc nịch. Đầu rộng hơn dài. Rộng đầu 14.34 – 16.87 mm, dài đầu 13.73 – 16.11 mm. Mõm tròn. Mắt lớn, đường kính dài hơn dài mõm và khoảng cách gian ổ mắt. Đường kính mắt 5.57 – 6.67 mm, dài mõm 5.01 – 6.19 mm, Gian ổ mắt 3.3 – 4.3 mm. Đồng tử ngang. Răng lá mía xuất hiện.
Chân trước: Dài cẳng chân 11.5 – 12.86 mm, dài bàn chân 18.55 – 20.94 mm. Ngón chân có đĩa vát cụt, không có màng bơi. Công thức ngón I<IV<II<III. Chân sau: Dài đùi 19.3 – 22.28 mm. Dài ống chân 19.94 – 21.97 mm. Các ngón có màng bơi và đĩa phình lớn. Củ bàn chân trong thấp, hình bầu dục, chiều dài 1.97 – 2.2 mm. Củ bàn chân ngoài tiêu biến. Da lưng và chân nổi hột. Hông sườn có nốt sần. Bụng mượt. Mặt lưng của đầu và thân có màu nâu hạt ô – liu, có đốm đen xếp thành hình mạng lưới xung quanh nốt sần màu ô – liu. Hông sườn có nốt sần màu ô – liu. Chân có dấu chéo màu đen. Bụng trắng. Họng và ngực có đốm đen.
Sinh học, sinh thái:
Sống ở ven bờ suối đá trong rừng thường xanh cây gỗ cứng và cây bụi ở độ cao 1.200m trở lên. Thức ăn là các loài côn trùng, ếch nhỏ, nòng nọc của loài khác sống trong khu vực phân bố. Thường gặp vào đầu mùa mưa hàng năm chúng kết đôi, đẻ trứng ở các khu vực nước chảy chậm. Vòng đời biến thái hoàn toàn của chúng cũng trải qua các giai đạn giống như các loài lưỡng cư khác là dưới nước và trên cạn.
Phân bố:
Trong nước: Loài đặc hữu ở Việt Nam, mới phát hiện năm 1999 ở Quảng Nam, Kontum, Gia Lai.
Nước ngoài: Chưa có dẫn liệu.
Tình trạng:
Loài này hiện chỉ ghi nhận phân bố ở tỉnh Kontum, Quảng Nam và Gia Lai. Diện tích vùng phân bố (EOO) ước tính khoảng 426 km2; số địa điểm ghi nhận phân bố là 1; sinh cảnh sống của loài hiện đang bị de dọa do hoạt động khai thác lâm sản và xâm lấn đất rừng.
Giá trị:
Là loài khá phổ biến và số lượng còn nhiều do không bị săn bắt làm thức ăn. Có giá trị nghiên cứu khoa học về sinh thái và tập tính của loài.
Biện pháp bảo vệ:
Vùng phân bố của loài nằm trong Khu bảo tồn thiên nhiên nên được bảo vệ. Tuy nhiên, vẫn rất cần thiết bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên. Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái và đánh giá hiện trạng quần thể để đưa ra các khuyến nghị đối với công tác bảo tồn.

Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng trường, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae