TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Jodi Rowley

Ếch bám đá đốm vàng

Tên tiếng Anh: Splendid torrent frog
Tên Latin: Amolops splendissimus
Đồng danh: Staurois viridimaculatus Jiang, 1983
Đồng danh: Amolops splendissimus Orlov and Ho, 2007
Đồng danh: Amolops caelumnoctis Rao and Wilkinson, 2007
Đồng danh: Amolops viridimaculatus (Jiang, 1983)
Tên khác: Ếch đốm sao
  • Độ cao so mặt nước biển 2400 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

ẾCH BÁM ĐÁ ĐỐM VÀNG

Amolops viridimaculatus (Jiang, 1983)
Staurois viridimaculatus Jiang, 1983
Amolops splendissimus Orlov and Ho, 2007
Amolops caelumnoctis Rao and Wilkinson, 2007
Họ: Ếch nhái Ranidae
Bộ: Không đuôi Anura

Đặc điểm nhận dạng: 
Con đực, chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 71.3 mm. Thân gầy, thon dài. Đầu dẹt về phía lưng bụng, rộng hơn dài. Mõm nghiêng từ phía trước mắt đến đỉnh, nhô nhẹ khỏi hàm dưới. Góc mắt tròn. Vùng má lõm, không xiên lệch, hầu như thẳng đứng. Mũi nằm ở giữa đỉnh mõm và mắt ở phía lưng bên. Đỉnh đầu xiên từ vùng chẩm đến trán. Vùng gian ổ mắt và trán lõm. Mõm tròn ở góc nhìn lưng. Gai nhìn không rõ. Mắt rộng và lồi ra trước, hầu như dài bằng mõm. Vùng thái dương không lồi. Màng nhĩ nhỏ, rõ. Răng lá mía hội tụ mạnh ra sau giữa khoang mũi hầu. Khoang mũi hầu chỉ là khe rãnh, đặt ở phía bên và bị che khuất bởi thềm lưỡi ở góc nhìn bụng bên. Lưỡi lũn sâu hình chữ V, tự do 1/3 phía sau. Túi kêu và khe dây thanh tiêu biến.

Chân trước thon dài, hơi phình. Ngón mảnh và dài khi bó sát. Công thức ngón 3 – 4 – 2 – 1. Ngón thứ ba hầu như dài bằng cẳng chân trước. Đầu ngón thứ 2 đến thứ 4 trải dài đến đĩa đệm. Đĩa ở đầu ngón có đường rãnh tròn mép. Đĩa ngón thứ ba lớn nhất, lớn hơn màng nhĩ. Màng bơi và riềm da tiêu biến. Củ khớp phụ xuất hiện ở rìa giữa phía bụng, lớn, hình bầu dục hoặc hầu như tròn, phình ra. Công thức ngón 1,1,2,2. Củ phụ xuất hiện không rõ ở đáy của mỗi ngón. Củ bàn chân trong và ngoài nhỏ, hẹp và dẹt. Mu bàn chân mềm mượt, màu đen nâu về phía bụng, trắng xám về phía lưng, trải rộng từ đáy ngón đầu đến mép ngoại biên của củ khớp phụ đầu tiên.
Chân sau dài, mảnh. Gót gối lên khi chân gập với thân. Khớp cổ chân chạm mút mõm. Ống chân dài bằng 57% dài thân. Các ngón đều có màng bơi, có riềm rõ đến đĩa. Công thức màng bơi I1 – 1KII1 – 2III1K – 2IV2K – 1KV. Đĩa ngón cái nhỏ hơn các ngón còn lại, có đường rãnh tròn mép. Củ khớp phụ hình bầu dục xuất hiện ở tất cả các ngón cái. Công thức củ khớp phụ 1,1,2,3,2. Củ bàn chân trong tương đối hẹp và thon dài, hơi phình, nhỏ hơn một nửa chiều dài ngón cái đầu tiên. Củ bàn chân ngoài tiêu biến. Da lưng và bụng mịn, bao gồm ngực, họng, bụng, mặt bụng của chân và hông sườn. Không có nếp lưng bên. Nếp thái dương rõ.
Màu khi sống: Lưng và hông sườn màu tím đậm, rải rác đốm vàng tròn sáng. Mắt nâu sẫm có đốm vàng và viền khuyên vàng quanh đồng tử. Góc mắt màu nâu sáng, màng nháy sẫm màu. Mí mắt màu tím sẫm như màu lưng. Họng và ngực màu xanh sáng hoặc trắng có đốm đen. Bụng trước màu xám sáng, bụng sau có đốm xám sẫm. Háng màu xám sẫm có đốm trắng không đều. Mặt lưng của chân không có sọc ngang. Mặt bụng của chân màu xanh lam sáng hoặc trắng. Mặt bụng của đùi màu xanh lam có mắt lưới đen. Mặt bụng của ống chân màu xanh lam có đốm vàng nhỏ. Mặt lưng của bàn chân trước và củ bàn chân màu xám sẫm. Mặt lưng của bàn chân sau và đĩa ngón và các củ bàn chân có màu xám sẫm. Màng bơi màu vàng.
Sinh học, sinh thái:
Loài này sống ở các con suối chảy ở độ cao 1.800m trở lên. Thức ăn là các loài côn trùng, ếch nhỏ, nòng nọc của loài khác sống trong khu vực phân bố. Thường gặp vào đầu mùa mưa hàng năm chúng kết đôi, đẻ trứng ở các khu vực nước chảy chậm. Vòng đời biến thái hoàn toàn của chúng cũng trải qua các giai đạn giống như các loài lưỡng cư khác là dưới nước và trên cạn.
Phân bố:
Trong nước: Tam Dương thuộc tỉnh Lai Châu, Kỳ Quan San, Bát Xát thuộc tỉnh Lào Cai.
Nước ngoài: Vân Nam Trung Quốc.
Tình trạng:
Số lượng ngoài tự nhiên ngày càng suy giảm vì nơi cư trú suy giảm do khai thác quá mức.
Phân hạngVU B1ab(iii).
Giá trị:
Loài này hiện chỉ ghi nhận phân bố ở các tỉnh Lai Châu và Lào Cai. Diện tích vùng phân bố ước tính (EOO) khoảng 1.500 km2; số địa điểm ghi nhận phân bố là 2; sinh cảnh sống của loài đã và đang bị thu hẹp, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, chuyển đổi đất rừng sang đất sản xuất nông nghiệp và phát triển du lịch.

Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae