Ếch bám đá compotrix
| Tên tiếng Anh: | Compotrix torrent frog |
|---|---|
| Tên Latin: | Amolops compotrix |
| Đồng danh: | Amolops compotrix Bain et al., 2006 |
| Đồng danh: | Amolops compotrix Bain et al., 2006 |
| Đồng danh: | Amolops compotrix Bain et al., 2006 |
| Đồng danh: | Amolops compotrix Bain et al., 2006 |
| Tên khác: | Ếch bám đá trung phần |
- Độ cao so mặt nước biển 1000 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Tình trạng bảo tồn Loài phổ biến FS: Formal species
- Giá trị sử dụng Làm thực phẩm cho con người Chuỗi mắt xích của đa dạng sinh học
- Sinh thái Lưỡng cư (vòng đời trải qua 2 giai đoạn dưới nước và trên cạn) Lưỡng cư kiếm ăn ban đêm
ẾCH BÁM ĐÁ COMPOTRIX
Amolops compotrix Bain et al., 2006
Họ: Ếch nhái Ranidae
Bộ: Không đuôi Anura
Đặc điểm nhận dạng:
Con cái có chiều dài thân 55.6 – 56.9 mm. Cơ thể hình quả thông rõ ràng. Đường kính màng nhĩ của con đực bằng với con cái. Con đực có túi kêu nhỏ dưới cổ họng. Ngón thứ nhất của chân trước ngăn hơn ngón thứ hai, không có nếp da phía trước trục ngón thứ hai và thứ ba. Đầu ngón chân sau nở rộng với đường rãnh ở mép ngoài, con đực có chiều rộng đĩa ngón thứ ba chân trước bằng ½ đường kính màng nhĩ. Chân sau có một củ bàn ngoài. Nếp gấp bên lưng mảnh, kéo dài từ góc sau của mí mắt trên đến gần huyệt. Da trên lưng trơn. Con đực không có tuyến dưới chân trước. Lưng con đực có màu xanh lá – xanh lục trong điều kiện bảo quản. Con cái có màu xanh lá – lục đến xanh lá hơi vàng, nâu dưới bụng. Trứng không màu.
Thân thon dài, chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 40.6 – 42 mm ở con đực và 60.2 mm ở con cái. Đầu dài hơn rộng (Dài đầu 15.4 – 17.3 mm, rộng đầu 13.4 – 15 mm ở con đực. Dài đầu 22 mm và rộng đầu 18.6 mm ở con cái). Mõm nhọn ở góc nhìn lưng, nhô ra khỏi hàm dưới (RL 6.3 – 6.8 mm ở con đực và 9.4 mm ở con cái), không dài hơn đường kính chiều ngang của đường kính mắt (đường kính mắt 6.0 – 6.5 mm ở con đực và 8.4 mm ở con cái). Gờ sóng mũi rõ, hơi thắt lại phía sau các lỗ mũi. Vùng trước mắt lõm và xiên. Mũi ở mặt bên, ở giữa mút mõm và mắt. (NS 2.7 – 2.8 mm, EN 2.8 – 3.0 mm ở con đực và NS 4.3 mm, EN 4.1 mm ở con cái); Khoảng cách gian mắt hẹp hơn khoảng cách gian mũi và mi mắt trên (IOD 3.7 – 3.8 mm, UEW 4.6 – 4.8 mm, IN 3.9 – 4.4 mm ở con đực và IOD 4.5 mm, UEW 5.8 mm, IN 5.2 mm ở con cái). Gai thân rõ. Màng nhĩ rõ, tròn, bằng 43% đường kính mắt ở con đực và 40% ở con cái. Có răng lá mía. Lưỡi hình trái tim, lõm chữ V sâu về phía trước. Túi kêu ở thềm góc miệng. Chân trước dài (HAL 21.3 – 23.7 mm ở con đực, 30.8 mm ở con cái). Công thức độ dài ngón chân trước: I < II < IV < III. Các ngón chân trước không có riềm da, không có màng bơi. Các đầu ngón chân trước nở rộng có rãnh mép quanh. Có 2 củ mu bàn chân hình bầu dục, nối với nhau. Không có đệm chân. Chân sau mảnh hơn, đùi ngắn cẳng chân (FL 24.3 – 25.3 mm, TbL 24.7 – 27.4 mm ở con đực và FL 35.5 mm, TbL 37.9 mm ở con cái). Công thức ngón I < II < V < III < IV. Đầu ngón nở rộng, chiều rộng đĩa ngón chân sau thứ IV bằng với đĩa ngón chân trước thứ III. Công thức màng bơi I0 – 0II0 – 0III0 – 1IV1 – 0V. Khớp cổ chân chạm mút mõm khi gập thân. Củ bàn chân trong rõ, thon dài, hình bầu dục. Cù ngoài tròn, nhỏ. Da lưng mịn. Nếp trên màng nhĩ chạy từ góc sau mắt đến nách. Nếp tuyến lưng bên xuất hiện. Hông mịn. Bụng mịn. Trong tự nhiên: Mặt lưng màu xanh lá cây, có đốm nâu sẫm. Mặt bên thân màu nâu sẫm. Sọc môi màu trắng, từ mút mõm đến phía sau nách. Mặt lưng của chân màu nâu xám có sọc vằn thâm. Mặt bụng của hàm, họng, ngực và bụng màu trắng. Mặt bụng của chân màu kem.
Sinh học, sinh thái:
Là loài ăn đêm, thường thấy ở trên các tảng đá giữa dòng suối ở độ cao 1.000m ở các khu rừng nguyên sinh. Thức ăn là các loài côn trùng, ếch nhỏ, nòng nọc của loài khác sống trong khu vực phân bố. Thường gặp vào đầu mùa mưa hàng năm chúng kết đôi, đẻ trứng ở các khu vực nước chảy chậm. Vòng đời biến thái hoàn toàn của chúng cũng trải qua các giai đạn giống như các loài lưỡng cư khác là dưới nước và trên cạn.
Phân bố:
Trong nước: Loài này được phát hiện và công bố năm 2006 ở các tỉnh Kontum, Thừa Thiên Huế. Mới đấy còn ghi nhận phân bố ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, Nghệ An
Nước ngoài: Chỉ được biết đến từ Lào (các tỉnh Khammouan và Khouang). Loài này cũng có thể được tìm thấy trên khắp vùng cao nguyên phía Nam của Lào và vùng cao nguyên Trung phần của Việt Nam và rất có thể còn phân bố đến tận vùng cực đông bắc Campuchia.
Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Nhông xanh đuôi dài orlov
Tên tiếng Anh:Orlov's forest lizard
Tên Latin:Bronchocela orlovi
Quắm lớn
Tên tiếng Anh:Giant ibis
Tên Latin:Pseudibis gigantea
Cam biển
Tên tiếng Anh:Sea orange
Tên Latin:Pleiospermium littorale
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae