Dúi mốc
| Tên tiếng Anh: | Hoary bamboo rat |
|---|---|
| Tên Latin: | Rhizomys pruinosus |
| Đồng danh: | Rhizomys latouchei Thomas, 1915 |
| Đồng danh: | Rhizomys pannosus Thomas, 1915 |
| Đồng danh: | Rhizomys prusianus Shih, 1930 |
| Đồng danh: | Rhizomys senex Thomas, 1915 |
| Tên khác: | Chuột tre nhỏ |
- Độ cao so mặt nước biển 2500 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Malaysia Ấn Độ Myanmar Hầu khắp khu vực có rừng ở Việt Nam Pakistan Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, Tuyên Quang Khu vảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên-Văn Bàn, Lào Cai
- Môi trường sống Trên cạn Rừng tre nứa Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa Đào hang, sống dưới mặt đất - Chim, Thú
- Tình trạng bảo tồn Loài phổ biến FS: Formal species
- Giá trị sử dụng Làm thực phẩm cho con người Nhân nuôi để nghiên cứu và làm cảnh Cân bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn tự nhiên
- Sinh thái Thú kiếm ăn cả ngày lẫn đêm Thú gặm nhấm, đào và ăn rễ cây trong rừng Thú gặm nhấm ăn trái cây, quả, củ, côn trùng
DÚI MỐC
Rhizomys pruinosus Blyth, 1851
Rhizomys latouchei Thomas, 1915
Rhizomys pannosus Thomas, 1915
Rhizomys prusianus Shih, 1930
Rhizomys senex Thomas, 1915
Họ: Dúi Rhizomydae
Bộ: Gặm nhấm Rodentia
Đặc điểm nhận dạng:
Dúi mốc nặng 0,5 – 0,8 kg, dài thân 256 – 350 mm, dài đuôi 100 – 124 mm. Thân hình trụ mập, Đầu hình nón, cổ ngắn. Chân ngắn, bàn chân to, có năm ngón, ngón có vuốt lớn, có hai ngón chân sau liền với nhau. Bộ lông thô màu mốc đốm trắng. Tai nhỏ, mắt bé.
Sinh học, sinh thái:
Dúi mốc sống ở đồi thấp, trên sườn núi đất thoai thoải có nhiều loài thực vật tre, trúc đến độ cao 2.500 m. Sống theo gia đình 3 đến 5 con trong hang tự đào và hầu như không lên khỏi hang. Hang Dúi dài, nhiều ngách. Mọi hoạt động đều diễn ra trong hang. Dúi má đào ăn rễ các loài cây thuộc họ Cỏ Poaceae và một số loài cây thuộc họ Ngũ gia bì Araliaceae. Dúi sinh sản từ tháng 3 tháng 8, Mỗi năm đẻ 2 hoặc 3 lứa, mỗi lứa 2 – 4 con. Con non đẻ sau 4 tháng tuổi đã có khả năng sinh sản. Tổ được lót bằng cỏ khô và mảnh tre. Việc cai sữa diễn ra khi những con non được khoảng hai hoặc hai tháng rưỡi.
Phân bố:
Trong nước: Phân bố ở hầu khắp các tỉnh có rừng ở Việt Nam.
Nước ngoài: Ấn Độ, Myanmar, Thái Lan, Malaysia, Lào, Campuchia.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng dúi hiện còn nhiều. Cần săn bắn dúi để bảo vệ rừng tre trúc. Dúi mốc gây nhiều tác hại cho hoạt động lâm nghiệp. Một con dúi, một năm có thể làm chết 2.000 cây tre (hay nứa, vầu – họ Cỏ Poaceae. Thịt dúi có thể ăn được. Tuy nhiên cũng cần có kế hoạch để bảo vệ sự săn bắn quá mức trong tự nhiên.
Tài liệu dẫn: Nguyễn Trường Sơn – Viện sinh thái Tài nguyên Sinh vật, Phùng Mỹ Trung – Web Admin..
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Rắn lục đầu bạc kharin
Tên tiếng Anh:Kharin's viper
Tên Latin:Azemiops kharini
Đảng sâm
Tên tiếng Anh:No english name
Tên Latin:Codonopsis javanica
Ễnh ương nâu
Tên tiếng Anh:Burmese squat frog
Tên Latin:Calluella guttulata
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae