TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Dúi má đào

Tên tiếng Anh: Large bamboo rat
Tên Latin: Rhizomys sumatrensis
Đồng danh: Rhizomys cinereus M'Clelland, 1842
Đồng danh: Rhizomys erythrogenys Anderson, 1877
Đồng danh: Rhizomys cinereus M'Clelland, 1842
Đồng danh: Rhizomys erythrogenys Anderson, 1877
Tên khác: Chuột tre lớn
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

DÚI MÁ ĐÀO

Rhizomys sumatrensis (Raffles, 1821)
Rhizomys cinereus M’Clelland, 1842
Rhizomys erythrogenys Anderson, 1877
Họ: Dúi Rhizomydae
Bộ: Gặm nhấm Rodentia

Đặc điểm nhận dạng:
Đầu và thân dài 260 – 480 mm, đuôi dài 100 – 200 mm; trọng lượng 2.1 – 4 kg. Bộ lông màu nâu nhạt, rậm rạp. Đỉnh đầu và gò má có màu đỏ; bụng nhạt hơn và có lông thưa đủ để da trần có thể nhìn thấy giữa các sợi lông. Đuôi không có lông và có đầu màu hồng. Răng cửa trên nằm ngoài miệng, có màu cam và hơi chếch về phía trước. Không giống như các loài khác của giống Rhizomys sp., hai đệm ngón chân sau trên bàn chân sau kết hợp thành một đệm đơn ở những con trưởng thành. Có mười đầu vú: 2 cặp vú trên ngực + 3 cặp vú ở bẹn.
Sinh học, sinh thái:
Thường sống trong các khu rừng tre, rừng thứ sinh. Chủ yếu sống dưới đất, đào hang rộng và phức tạp.  Ban ngày thường ở trong hang; hoạt động nhiều vào ban đêm (nocturnal) để tìm thức ăn. Thức ăn chủ yếu: rễ và chồi tre, các bộ phận thực vật dưới mặt đất. Số lượng con trong một lứa được báo cáo là 3 – 5 ở Rhizomys sumatrensis, có thời gian thai kỳ ít nhất là 22 ngày. Các con non mọc lông khoảng 10 – 13 ngày, mở mắt vào ngày thứ 24, và được cai sữa trong khoảng thời gian kéo dài từ 1 – 3 tháng.
Phân bố:
Trong nước: Hầu khắp các khu vực có rừng tre, nứa và rừng thường xanh núi cao.
Nước ngoài: Trung Quốc,Thái Lan, Myanmar, Lào, Cambodia, Malaysia, Indonesia.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên. Đây là nguồn thực phẩm có giá trị cho đồng bào dân tộc và hiện loài này được nuôi thương phẩm ở nhiều vùng.
Tình trạng:
Số lượng loài này ở Việt Nam còn tương đối nhiều. Đây là loài gây hại với hầu hết các kiểu rừng tre nứa, lồ ồ. Tuy nhiên cũng cần phải có biện pháp bảo vệ loài này trong tự nhiên.
Biên pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Nguyễn Trường Sơn – Viện Sinh thái Tài nguyên sinh vật, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae