TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Dù dì nepal

Tên tiếng Anh: Spot - bellied eagle - owl
Tên Latin: Bubo nipalensis
Đồng danh: Bubo nipalensis Hodgson, 1836
Đồng danh: Bubo nipalensis Hodgson, 1836
Đồng danh: Bubo nipalensis Hodgson, 1836
Đồng danh: Bubo nipalensis Hodgson, 1836
Tên khác: Cú đốm hông
  • Độ cao so mặt nước biển M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

DÙ DÌ NEPAL

Bubo nipalensis Hodgson, 1836
Họ: Cú Strigidae
Bộ: Cú Strigiformes

Đặc điểm nhận dạng:
Chiều dài thân (phân loài Bubo nepalensis nipalensis): 61 cm. Loài Cú có kích thước lớn, trên toàn bộ mặt bụng màu trắng nhạt và 2 tai có đốm nâu tối rất rõ. Mỏ vàng nhạt. Trong đêm từ chỗ ngủ ở bìa rừng thường phát ra tiếng kêu rất to “hù, hù”, lặp đi lặp lại sau 1 – 2 phút.
Sinh học, sinh thái:
Dù dì nê pan sống ở rừng thường xanh và bán thường xanh cây lá rộng, và rừng cây họ dầu, thưa thớt, một số nơi có tre vầu mọc xen kẽ. Có thể gặp lên đến độ cao 1.200 m. Sống định cư, phân bố khá rộng, tìm thấy đi lẻ hay đôi ở một số nơi như Vườn quốc gia Cát Tiên (63), Yok Don, Đắk Lắk (38), Cúc Phương, nhưng rất hiếm. Từ xưa đã thu mẫu ở vùng Tây Bắc nước ta (11, 108), các cuộc điều tra ở vùng Tây Bắc trong thập kỉ 90 chưa phát hiện trở lại. Tương tự như các loài cú khác, chúng đi kiếm ăn, săn mồi về đêm, dễ dàng quan sát vào ban ngày khi chim ngồi yên dưới tán rừng hay khi chúng phát ra tiếng kêu to vào lúc đi kiếm ăn. Làm tổ ở hốc cây, có thể sử dụng tổ cũ của loài chim ăn thịt khác. Mùa sinh sản từ tháng 2 – 6 trong năm, đẻ 01 trứng màu trắng, kích thước trứng: 61,2 x 49,8 mm.
Phân bố:
Trong nước: Tây Bắc (Lai Châu, Mường Nhé), Tây Nguyên và Nam Bộ – Bình Dương (cũ), Đồng Nai, Gia Lai, Đắk Lắk.
Nước ngoài: Trung Quốc, Ấn Độ, Butan, Bangladesh, Nepal, Sri Lanka Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia.
Giá trị:
Loài chim có ích, săn mồi chuột, số lượng không nhiều, hiếm gặp, có giá trị khoa học và thẩm mỹ.
Tình trạng:
Dù dì nê pan là loài chim định cư hiếm gặp, phân bố khắp Việt Nam. Loài này có kích cỡ quần thể nhỏ và bị suy giảm do mất và suy thoái sinh cảnh sống cũng như bị bẫy bắt làm cảnh; ước tính kích cỡ quần thể loài < 2.500 cá thể và số lượng cá thể trưởng thành của mỗi tiểu quần thể < 250. Hiện trạng quần thể của loài hiện chưa được đánh giá tổng thể, tuy nhiên được đánh giá hiếm trong vùng phân bố.
Phân hạngEN C2a(i) + D.
Biện pháp bảo vệ:
Dù dì nê pan đã được đưa vào Nghị định số 84/2021/NĐ – CP của Chính phủ, Phụ lục II CITES. Phần lớn sinh cảnh của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Đề xuất điều tra quần thể loài tại Việt Nam, bảo vệ và phục hồi sinh cảnh sống trong vùng phân bố tự nhiên của loài ; kiểm soát các hoạt động săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 280.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae