TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Dơi ngựa lớn

Tên tiếng Anh: Large flying fox
Tên Latin:  Pteropus vampyrus
Đồng danh: Pteropus caninus Blumenbach, 1797
Đồng danh: Pteropus celaeno Hermann, 1804
Đồng danh: Pteropus edulis É. Geoffroy, 1810
Đồng danh: Pteropus javanicus Desmarest, 1820
Tên khác: Dơi cáo bay lớn
  • Độ cao so mặt nước biển 150 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

DƠI NGỰA LỚN

 Pteropus vampyrus Linnaeus, 1758
Pteropus caninus Blumenbach, 1797
Pteropus celaeno Hermann, 1804
Pteropus edulis É. Geoffroy, 1810
Pteropus javanicus Desmarest, 1820
Họ: Dơi quả Pteropodidae
Bộ: Dơi Chiroptera

Đặc điểm nhận dạng:
Dơi ngựa lớn là loài dơi lớn nhất trong họ Dơi quả Pteropodidae và là một trong những loài dơi có kích thước lớn nhất thế giới. Kích thước cẳng tay dài 185 – 225 mm, chiều dài thân đầu 276 – 339 mm, chiều dài chân, móng 52 – 75 mm, dài đuôi 0, trọng lượng 645 – 1.100g. Dơi trưởng thành lông đồng màu nâu xám, cổ và vai vàng nâu hay vàng sẫm. Lông phần lưng phía trên phần vai và cổ dài hơn nửa phần dưới. Lông bụng thô và to. Các con non có màu nâu xám mờ.
Sinh học, sinh thái:
Sống thành đàn lớn trên cành cây ở rừng ngập mặn (cây họ Đước Rhizophoraceae). Chúng thường bay những quãng đường dài để tìm thức ăn. Kiếm ăn vào ban đêm ban ngày treo mình ngủ trên cành cây. Thức ăn chủ yếu của loài này là quả hoặc mật hoa như chôm chôm, xoài, sầu riêng… Chúng là tác nhân thụ phấn hoa của nhiều loài cây rừng và cây ăn quả. Mùa sinh sản bắt đầu mang thai từ tháng 10 đến tháng 11 hàng năm. Con non sinh vào tháng 3 đến tháng 5 hàng năm. Mổi năm đẻ một lứa, mỗi lứa đẻ một con.
Phân bố:
Trong nước: Thành phố Hồ Chí Minh (Cần Giờ), Bà Rịa-Vũng Tàu (Côn Đảo), Sóc Trăng (thị xã Sóc Trăng), Kiên Giang (Phú Quốc, U Minh Thượng), Cà Mau (U Minh Hạ, Ngọc Hiển).
Nước ngoài: Phía Nam Myanmar, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines, Java, Borneo.
Giá trị:
Loài dơi có giá trị nghiên cứu khoa học, thẩm mỹ và là tác nhân giúp các loài cây thụ phấn trong thiên nhiên.
Tình trạng:
Loài này trước đây ghi nhận phân bố ở các tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Sóc Trăng, Kiên Giang, Cà Mau và Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay chỉ còn ghi nhận ở khu vực rừng ngập mặn thuộc huyện Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh). Sinh cảnh sống, đặc biệt là nơi kiếm ăn, bị thu hẹp, suy thoái do chuyển đổi đất rừng ngập mặn để nuôi trồng thuỷ sản và phát triển cơ sở hạ tầng. Số lượng cá thể của loài này ở Việt Nam ước tính < 250 và số lượng cá thể trưởng thành dự báo tiếp tục bị suy giảm do săn bắt quá mức.
Phân hạng: CR C2b.
Biện pháp bảo vệ:
Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh sống, tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về việc bảo tồn và phòng chống nguy cơ dịch bệnh do hoạt động săn bắt, nuôn bán hoặc tiêu thụ thịt dơi.

Mô tả loài: Nguyễn Trường Sơn – Viện sinh thái tài nguyên sinh vật – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae